20-08-2014

Nước tiểu - "thần dược" trường thọ của cụ bà 104 tuổi?


“Thần dược” trường thọ từ nước tiểu hỗn hợp của cụ bà Võ Thị Bài (104 tuổi) trong câu chuyện “tay không bắt cướp” nổi tiếng ở Đồng Nai vừa qua sẽ khiến nhiều nghe giật mình.

Bởi theo nguyên lý bài tiết, nước tiểu là loại nước bỏ đi, mất vệ sinh và có chứa độc tố gây hại… Tuy nhiên, các chuyên gia Đông y, Tây y có những kiến giải bất ngờ.

Nước tiểu trẻ em có tác dụng tốt cho phụ nữ

Sau khi đọc toàn bộ bài viết về “thần dược” trường xuân của cụ bà Võ Thị Bài 104 tuổi, ở huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, lương y Nguyễn Huy (Hà Nội) khẳng định: “Nước tiểu là một vị thuốc quý, đơn giản, không tốn kém mà từ ngàn đời nay cha ông ta đã sử dụng. Mãi sau này, người ta cho rằng dùng nước tiểu mất vệ sinh nên con người thời hiện đại mới bỏ không dùng nữa. Ngày tôi còn nhỏ, bố tôi cứ buổi sáng lại bắt tôi tiểu vào cái bát rồi cụ uống. Ngày ấy tôi không hiểu, cứ thấy “ghê ghê”, sau này tôi mới biết nước tiểu có thể dùng để chữa rất nhiều bệnh nếu biết vận dụng đúng người, đúng bệnh”.

Theo lương y Nguyễn Huy, ông là người kiểm nghiệm và từng dùng đến nước tiểu để tự cứu mình trong một vụ tai nạn. Cách đây vài năm, ông bị ngã xe trong đêm giao thừa. Lúc đó, ông cảm thấy tứ chi tê dại và buồn ngủ. Theo kinh nghiệm người làm thuốc, ông biết mình sắp ngất đến nơi nên bấm vào huyệt nhân trung để giữ thần trí tỉnh táo.

"Sau khi được người thân đưa về nhà, tôi bảo con tiểu ra một cái bát và giã vào đó mấy miếng gừng tươi chắt nước để uống ngay. Sau khi uống thứ nước đó, tôi thấy cơ thể tạm ổn và ngủ một giấc. Sáng mai tỉnh dậy, tôi mới biết ngực trái bị nguyên cái ghi đông xe đập vào. Sở dĩ, tôi bảo con cho uống nước tiểu trong thời khắc nguy hiểm ấy vì biết trong nước tiểu có Amoniac, có tác dụng chống sốc rất tốt, làm cho người ta tỉnh nhanh và có thể dùng nó để cấp cứu”, ông Huy chia sẻ.

Lương y Nguyễn Huy cho biết bản thân ông đã thực nghiệm công dụng của nước tiểu.
Lương y cũng cho biết, có rất nhiều vị thuốc trong Đông y được tẩm bằng nước tiểu. Ví dụ như bài “Tứ chế” nổi tiếng chữa bệnh xoang. “Tứ chế” tức là chia mẻ thuốc làm 4 phần: 1 phần để sống, 1 phần sao,1 phần tẩm rượu, 1 phần tẩm nước tiểu. Phần tẩm nước tiểu làm bằng cách phơi khô, ngâm nước tiểu 1 đêm, rồi lại phơi khô. Cứ như thế làm đi làm lại 3 lần rồi mới đem sao vàng trộn lại với 3 phần thuốc kia.

Hay vị thuốc “Nhân trung bạch”, chính là cặn nước tiểu, dùng để chữa một số bệnh nội tiết. Ngoài ra, loại thuốc nhỏ mắt lông ngỗng của các cụ ngày xưa cũng có một phần nước tiểu.

“Đặc biệt, phụ nữ mới sinh sau khi sạch huyết uống 1-2 tháng nước tiểu sẽ thấy tác dụng tốt. Nước tiểu dùng để uống phải là nước tiểu trẻ con dưới 10 tuổi, bỏ đầu bỏ cuối lấy phần nước tiểu giữa lúc trẻ đang tiểu. Mỗi lần 1 bát, bỏ mấy lát gừng càng tốt. Việc uống nước tiểu nên thực hiện vào sáng sớm hoặc tối muộn trước khi đi ngủ, uống khoảng 300 ml", lương y Huy chia sẻ thêm.

Theo ông Huy, nước tiểu có tác dụng phục hồi chức năng cho sản phụ, thực chất là phục hồi nội tiết sản phụ, giúp thận khỏe, chức năng sinh sản không bị tổn thương, chống bệnh hậu sản, rối loạn nội tiết tố. Sở dĩ nên uống nước tiểu trẻ em dưới 10 tuổi bởi chúng chưa có nội tiết tố. Còn nước tiểu của người trên 10 tuổi chỉ lấy để dùng làm thuốc cấp cứu, chống sốc và dùng làm vị Nhân trung bạch.

Trở lại với câu chuyện cụ bà 104 ở Đồng Nai thường xuyên uống nước tiểu bỏ một ít bột nghệ, một ít muối để chăm sóc sức khỏe hàng ngày, lương y Nguyễn Huy cho biết, nước tiểu có thể bỏ vào mấy miếng gừng hoặc nghệ vì chúng có tác dụng dẫn thuốc vào các bộ phận của cơ thể một cách mạnh và nhanh hơn. Còn cho muối thì không cần vì trong nước tiểu đã có đủ muối rồi.

"Việc bà cụ ngày trẻ đang yếu ớt bỗng trở nên khỏe mạnh sau khi uống nước tiểu thì tôi không khẳng định hoàn toàn do nước tiểu, có thể đó là sự thay đổi của cơ thể người phụ nữ sau khi lập gia đình hay chế độ ăn uống… Tuy nhiên những khi sinh nở và lúc về già, cụ vẫn thường xuyên uống nước tiểu là rất tốt. Sức khỏe của cụ hiện tại chính là nhờ một phần ở loại nước này”, thầy thuốc này nói.

Chữa bệnh bằng nước tiểu trẻ em từng là một trào lưu

Trên thực tế, phương pháp chữa bệnh bằng nước tiểu đã có từ cách đây rất lâu, thậm chí còn rất phổ biến tại một số vùng ở Trung Hoa. Tân Hoa xã ngày 1/6/2001 cho biết, hơn 3 triệu người Trung Quốc đã uống nước tiểu của chính mình để chữa bệnh và giúp thân thể khỏe mạnh, cường tráng. Năm 1993, ông Trang Tây Dân ở tỉnh Tây An (Trung Quốc) là người đi đầu trong việc lập cơ sở chữa bệnh bằng nước tiểu.

Người ta được thông báo là nước tiểu chứa rất nhiều thành phần hoạt tính có khả năng củng cố hệ miễn dịch, không chứa vi khuẩn và vệ sinh hơn máu. Hiện nay, nhiều người Trung Hoa vẫn khẳng định tác dụng của phương thuốc đơn giản mà thần kỳ này vì họ cho rằng nước tiểu không phải là một chất thải của cơ thể mà là những chất được lọc ra từ máu.

Tại Việt Nam, phương pháp này cũng từng là một trào lưu. Lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Dược liệu TP HCM cho biết: “Việc sử dụng nước tiểu chữa bệnh đã từng rộ lên ở Việt Nam trong khoảng 20 năm và người ta đua nhau chữa bệnh bằng phương pháp này. Tuy nhiên do việc sử dụng bừa bãi không đúng cách nên khiến việc sử dụng nước tiểu không mang lại hiệu quả nhiều và đến nay đã lắng lại”.

Nước tiểu trẻ em là vị thuốc được lưu truyền trong dân gian từ lâu.

Trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, cố GS-TS Đỗ Tất Lợi cũng có ghi: “Nước tiểu còn gọi là đồng tiện, nhân niệu, luân hồi tửu, hoàn nguyên thang. Đồng tiện chỉ nước tiểu của trẻ em, thường là của bé trai dưới 12 tuổi, khỏe mạnh. Trong những tài liệu cổ, người ta dùng nước tiểu người lớn với tên “nhân niệu”. Rồi vì không coi nước tiểu người lớn là vị thuốc quý nếu biết dùng nên mới gọi là “luân hồi tửu” (thứ rượu uống vào, thải ra lại uống vào).

Trong y học cổ truyền, nước tiểu có vị mặn, tính hàn (lạnh), có tác dụng chữa hàn nhiệt, đầu thống (đầu đau nhức), ho lâu mất tiếng, chủ yếu dùng chữa các chứng sốt rét, bổ âm, giáng hỏa, dùng ngoài xoa bóp khi bị ngã hay bị thương, bị đánh người thâm tím”. Cũng theo cố GS-TS Đỗ Tất Lợi, “còn nhiều công dụng của nước tiểu thấy ghi trong những sách cổ mà chúng ta chưa giải thích được cũng như chưa có điều kiện kiểm tra”.

Theo lương y Bảy, việc áp dụng nước tiểu trong chăm sóc sức khỏe tùy thuộc vào quan điểm và kinh nghiệm chữa trị của từng người nhưng chỉ nên sử dụng nước tiểu của trẻ em khỏe mạnh vì hệ tiêu hóa của các em thuần, miễn dịch tốt, không nhiễm tạp chất, lấy theo phương cách bỏ khúc đầu, khúc cuối, lấy khúc giữa dùng để sao tẩm thuốc (hương phụ tiện chế). Đồng tình với quan điểm này, lương y Nguyễn Huy cũng lưu ý, nước tiểu không phải là thuốc bổ mà gần như là thuốc bảo vệ và kích thích.

“Đã gọi là thuốc hay thực phẩm chức năng thì bất cứ loại nào cũng phải có liệu trình và đúng người, đúng bệnh mới có hiệu quả tốt, nước tiểu cũng vậy. Với nước tiểu, chỉ nên dùng cho phụ nữ sau sinh và các cụ trên 70 tuổi, bởi chúng có thể giúp bổ sung nội tiết tố. Chỉ cần dùng 5-3 ngày lại nghỉ 15 ngày, không nên lạm dụng quá, sẽ thành dư thừa. Các cụ 90 tuổi có thể dùng dày hơn nhưng không nên dùng liên tục. Còn dùng để chữa bệnh kết hợp với các loại thuốc khác thì nên có sự chỉ định của các thấy thuốc”, lương y Huy khuyến cáo.

Không nên tùy tiện dùng “thần dược” của cụ già 104 tuổi

TS. Bùi Mạnh Hà (Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, về bản chất, trong nước tiểu hầu hết là các chất độc mà cơ thể thải ra. Nước tiểu ban đầu có thể là vô trùng nhưng khi lần lượt đi qua bể thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo để ra ngoài thì đều có thể bị bội nhiễm thêm do đi qua những vùng viêm nhiễm và bệnh lý của các cơ quan đó. Do vậy, nước tiểu hứng được ở phía ngoài thì hơn 80% là không sạch.

Mặt khác, nước tiểu vốn có nồng độ muối rất cao nên uống vào cũng không khác gì uống nước muối sẽ càng làm cho khát thêm và có nguy cơ giữ nước lại gây hại cho cơ thể (phù, cao huyết áp, suy tim...). Cho đến giờ vẫn chưa có bất cứ tài liệu y học nào chứng minh một cách khoa học rằng nước tiểu có tác dụng chữa bệnh hay bồi bổ sức khỏe. Vì vậy, y học hiện đại không hề khuyến khích dùng loại nước này”.

Bích Hồng 

(Nguồn: Gia Đình & Xã Hội, 8/2014)



Chủ nghĩa duy vật tâm linh, tại sao không?


TS. Hồ Bá Thâm

Khi công bố bài viết “Nhận thức lại bản chất ý thức và tâm linh”, tác giả đã nhận được bài phản biện của TS. Đỗ Kiên Cường. Sau đó tác giả công bố một số bài (tìm hiểu) liên quan tới tiếp cận lý giải về tâm linh theo tinh thần chủ nghĩa duy vật hiện đại (thông tin và bình luận), những bài viết phác thảo nghiên cứu (trong chuyên luận “Tìm hiểu vấn đề tâm linh”), có gì thiếu sót mà bạn đọc góp ý, tác giả xin tiếp thu, nghiên cứu tiếp, không giấu dốt. Vì chí ít nó cũng gợi ra vấn đề để thảo luận sâu hơn với tinh thần cầu thị khoa học.


Tuy nhiên, có vấn để cũng cần trao đỗi lại cho rõ. Một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất, đó là vấn đề có hay không có “Chủ nghĩa duy vật tâm linh”(CNDVTL). Đỗ Kiên Cường bảo không, tôi bảo có, xin mạnh dạn trao đổi trước, “múa rìu qua mặt thợ” vậy, những suy nghĩ mạo muội bước đầu!

1- “Chủ nghĩa duy vật tâm linh” tập trung nghiên cứu cấp độ (chiều dọc) vũ trụ - nhân sinh thì có ba vấn đề sau đây:i) Tâm vũ trụ - từ khái niệm của đạo Phật; ii) tâm của con người, ý thức chiều sâu; iii) cõi thiêng. Tâm linh theo nghĩa rộng là cả ba cấp độ ấy, còn theo nghĩa hẹp là cấp độ ba.

Còn nghiên cứu cấp độ khác (chiều ngang): thì i) nghĩa rộng của tâm linh là toàn bộ đời sống tinh thần, nhưng ở chiều sâu sự tâm diệu, linh diệu, cao cả của nó; ii) chiều trung/ vừa là cấp độ linh diệu và thiêng hóa đời sống tinh thần; iii) hẹp nhất là nghiên cứu vấn đề sau cái chết, nhưng không chỉ vấn đề linh hồn mà cả tín ngưỡng thờ phụng.

Do vậy, không nên coi tâm linh hoàn toàn thuộc phạm trù duy tâm (tức thừa nhận có lính hồn vĩnh cửu, có thượng đế), một các suy nghĩ chật hẹp và không có lối thoát. Bởi vì ít ra “tâm linh được dùng theo nghĩa các hiện tượng dị thường” và “tâm linh cũng được dùng theo nghĩa tín ngưỡng” (Đỗ Kiên Cường)[1]. Theo chúng tôi, tâm linh còn theo nghĩa rộng còn có cội nguồn từ tâm vũ trụ, như nói ở trên. Trong khi đó có nhiều người đã nêu giả thuyết và đang chứng minh về “khoa học tâm linh” (theo nghĩa nghiên cứu một cách khoa học về tâm linh và dựa trên khoa học hiện đại).

Với ý nghĩa đó, “chủ nghĩa duy vật tâm linh” là nghiên cứu ở cấp độ triết lý, bản chất chung nhất, linh diệu của chiều sâu tâm vũ trụ và tâm con người, cõi thiêng liêng của đời sống ý thức tinh thần của họ trong đời sống xã hội loài người. Đâu phải vì hòn đá không có ý thức, không có linh hồn nên không có tâm linh và không có chủ nghĩa duy vật tâm linh!? (chủ nghĩa duy vật tâm linh, thì chữ “tâm linh” ở dây không phải là tính chất mà là đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu). Phải chăng không có vấn đề tâm linh!?

“Chủ nghĩa duy vật tâm linh”, đó là tiếp cận duy vật hiện đại về các hiện tượng tâm diệu và tâm linh (từ linh diệu mà ra trong ý thức con người) dựa trên khoa học hiện đại cũng như những hạt nhân hợp lý trong dạo học, nhất là đạo Phật. Tức luận giải ấy về các hiện tượng linh diệu, linh thiêng của vũ trụ và con người là mang tính khoa học, duy vật biện chứng, nhân bản. Cố nhiên, đó là công việc của nhiều nhà khoa học, đạo học và triết học, bằng các phương pháp thực nghiệm, trực giác và luận lý.

“Chủ nghĩa duy vật tâm linh” như vậy là khác, nhưng không đối kháng với tôn giáo, tín ngưỡng, hữu thần, hiện tượng ngoại cảm, dị thường mà có năng lực đối thoại với nó, mang tính tích cực, tích hợp, bao dung, vừa khoa học vừa nhân văn. Đồng thời, tôi nhất trí rằng, “về mặt tư tưởng, nên đề cao chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng. Về mặt khoa học, nên đẩy mạnh tư duy phê phán và nghi ngờ” (Đỗ Kiên Cường), phê phán các biểu hiện duy tâm, mê tín, tin tưởng, sùng bái, bị mê hoặc hiện tượng “áp vọng’, “gọi hồn”, nói chuyện với “cõi âm”, “tìm mộ bằng ngoại cảm”, mang tính ngộ nhận, thậm chí “ngụy tạo khoa học”.

“Chủ nghĩa duy vật tâm linh” như vậy, không phải là sự đối lập giữa “duy vật” với “tâm linh” như “nước với lửa” như Đỗ Kiên Cường quan niệm và phản đối (“Không có cái gọi là Chủ nghĩa duy vật tâm linh”). Nghiên cứu các hiện tượng tâm linh theo tinh thần khoa học, Phật học và triết học duy vật biện chứng - lịch sử, mang tính gợi mở như vậy, vừa bác bỏ cái gì la sai, không thật và thừa nhận cái là hợp lý, hợp tình chính là tinh thần của “Chủ nghĩa duy vật tâm linh”. “Chủ nghĩa duy vật tâm linh” đã kết nối được tư tưởng triết lý Phật giáo và khoa học hiện đại về chiều sâu tâm thể vũ trụ và tâm con người trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật thực tiễn- lịch sử của C.Mác!

Cho nên, chúng tôi nghĩ rằng, đây là một hướng nghiên cứu, và chiêm nghiệm, dù cực kỳ khó khăn, phức tạp, lâu dài nhưng vẫn có triển vọng, ngay cả khi khoa học ngày càng phát triền, nhiều bí ẩn vũ trụ và con người được phát hiện, từ đó hình thức sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng (dự báo) có thu hẹp như thế nào đó, thì cõi linh diệu và cõi thiêng nói chung vẫn tồn tại, nó chỉ thay đổi hình thức của nó khi tâm vũ trụ là vô tận và tâm con người là vô tận…

Khoa học, và tôn giáo, tín ngưỡng, cõi đời và cõi thiêng, do vậy cùng đồng hành, cạnh tranh và bổ sung cho nhau chứ không loại trừ nhau như kẻ thù một mất một còn mà một thời vấp phải.

Đời sống con người mà thiếu vắng cõi linh diệu và cõi thiêng thì nghèo nàn đi nhiều lắm và cũng kém nhân văn lắm, dù rằng cần phải tránh hiện tượng sùng bái trực giác tâm linh, rơi vào mê tín dị đoan, sùng bái cõi thiêng, lợi dụng nó vào mục đích vụ lợi, xấu xa. Đồng thời, cũng tránh sùng bái khoa học, sùng bái thực nghiệm, sùng bái lý tính, sùng bái duy vật. Sùng bái niềm tin khoa học hay sùng bái niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng củng là sai lầm. Mọi sự sùng bái đều xa rời chân lý và nhân văn. Cần có tư duy biện chứng phức hợp/trung đạo!

2- Ở Phương Tây, nhất là xưa kia khuynh hướng triết học nghiêng nhiều về nghiên cứu tự nhiên và đã hình thành nên triết học tự nhiên. Trong thời cận - hiện đại, và hiện đại, cả hậu hiện đại bắt đầu nghiên cứu nhiều hơn về lĩnh vực xã hội, nhân văn, hình triết học về xã hội, triết học hiện snh, triết học đời sống... bên cạnh triết học khoa học (chủ nghĩa duy vật khoa học). Trong tôn giáo và ngoài tôn giáo cũng nghiên cứu về tâm vũ trụ, về hiện tượng dị thường, về Thượng đế, về linh hồn, về cõi thiêng, về tín ngưỡng… cõi thiêng nói chung. Triết học Phật giáo ra đời từ nghiên cứu tâm vũ trụ/ bản thể vũ trụ, bể khổ con người và sự giải thoát. Ngày nay có chuyên ngành triết học tôn giáo. Nhưng chuyên ngành triết học này không bao quát được các vấn dề tâm linh.

Riêng lĩnh vực sinh học, vật lý… cũng có nghiên cứu triết học bề những linh vực đó. Chúng ta còn nhớ, trong tư tưởng vật lý đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện “chủ nghĩa duy tâm vật lý” (trong trường hợp này không thấy ai la lên rằng duy tâm và vật lý là khác nhau, đối lập như “nước với lửa” cả!) khi tuyên bố nguyên tử biến mất và vật chất cũng biến mất và chủ nghĩa duy vật sụp đổ! Thực ra thì các thành tựu khoa học vật lý đã làm cơ sở cho chủ nghĩa duy vật vật lý.

Ta cũng biết chính VI.Lênin đã cho rằng chủ nghĩa duy tâm biện chứng, “chủ nghĩa duy tâm thông minh” của Hêghen gần chủ nghĩa duy vật (hiện đại) hơn chủ nghĩa duy vật tầm thường, siêu hình (phản biện chứng). Vấn đề của tư duy biện chứng không phải là chỉ ra đối lập, đối kháng hay đồng nhất mà là thấy được tính vừa đối lập vừa thống nhất của chúng - các mặt đối lập. Nhưng thói quen chỉ thấy đối lập đã ăn sâu vào não trạng siêu hinh, thiếu biện chứng của không ít người, kể cả một số nhà khoa học. thông thái…

Chẳng hạn, họ không thấy giữa vật chất và ý thức không chỉ đối lập mà còn đồng nhất, thống nhất với nhau. Và cũng từ đó họ chỉ thấy ý thức “không có tính vật chất” (so với cái nó phản ánh) mà không thấy trong hình thức tồn tại và hoạt động của nó là có tính vật chất, (mặc dù khi phản ánh nó cũng có tính vật chất, chính C.Mác cũng thấy điều này - “Ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào óc người và cải biến trong đó”; hay ý thức là cái vật chất, cái tồn tại “tự ý thức về bản thân mình” trong quá trình từ “tồn tại thuần túy” đến “tồn tại hiện hữu”). Ý thức như vậy là cái khác nhưng là cái khác của chính nó.

Theo Đỗ Kiên Cường, “Lenin đưa ra một định nghĩa chuẩn mực về vật chất như một phạm trù triết học. Theo đó, vật chất là tồn tại khách quan, đối lập và được phản ánh trong ý thức. Định nghĩa ngắn gọn đó gồm ba chân lý: 1) vật chất là tồn tại khách quan; 2) vật chất đối lập với ý thức, cũng có nghĩa ý thức không thể là vật chất; và 3) vật chất có thể nhận thức được (nhờ ý thức như một thuộc tính của vật chất phát triển cao).

Chính Đỗ Kiên Cường đã quên một vế (ĐKC đã hiểu không đầy đủ). nên có điểm sai lệch (“vật chất đối lập với ý thức, cũng có nghĩa ý thức không thể là vật chất”) khi giải thích định nghĩa “vật chất” của Lênin, nên không thấy ràng, giữa vật chất và ý thức không chỉ đối lập/ khác nhau mà còn thống nhất, đồng nhất với nhau. Hình như người ta chỉ nhấn mạnh sự đối lập, khác nhau là duy nhất (“vật chất đối lập với ý thức, cũng có nghĩa ý thức không thể là vật chất” - ĐKC) mà quên sự thống nhất, đồng nhất tương đối giữa vật chất và ý thức. Hoặc như có người giải thích, nhưng chỉ nêu thoáng qua là thống nhất về nội dung sự vật bên ngoài và hình ảnh chủ quan mà lại lờ đi hay sợ nói lên thực tế rằng. ý thức (hình ảnh) tồn tại dưới dạng năng lượng - thông tin đặc biệt trong não bộ (dù hữu thức, tiền thức, vô thức). Ý thức vì vậy, dù thông qua sự phản ánh hịện thực bên ngoài và là sản phẩm của não bộ, đều có sự liên hệ (đồng nhất tương đối) trên nền tảng năng lượng - thông tin vũ trụ. Đó là góc nhìn bản thể luận về ý thức và vật chất. Phải chăng vì vậy mà có người cho rằng, “Tinh thần - ý thức con người là vật chất dưới dạng “ánh sáng sinh học”? Đây là hướng lý giải mới về nhận thức lại bản chất phía khác của ý thức, chứ không phải không biết và “sai lầm về triết học” (sai đúng sẽ hạ hồi phân giải, không nên vội vàng phủ nhận ngay kiểu giáo sư nói với học trò).

Trong Đại bách khoa Xôviết, có viết: "Trong triết học, với việc giải thích duy vật vấn đề cơ bản của triết học, ý thức được xem như là một thuộc tính của vật chất có tổ chức cao, nó bao hàm sự phản ánh có tính chất tâm lý đối với hiện thực cả với tư cách là tồn tại được nhận thức, hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cả với tư cách là cái tinh thần trong sự đối lập với cái vật chất và trong sự thống nhất với cái vật chất.(Xem Đại Bách khoa Xô Viết, Nxb Bách khoa Xô Viết, tập 24, quyển 1, 1976, tr. 129).

Ngay cả, chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, có khi họ cũng chỉ thấy đối lập, loại trừ không thấy có cái gì chung, có thể kế thừa. Họ thiếu tư duy bổ sung với lập trường duy vật cứng như đá!!!. Thường thì người ta chỉ có thói quen chỉ thấy đối lập mà thôi, thậm chí khác mình là chống mình, là thù địch và chỉ có chụp mũ và phang, như một thời!!!

Chủ nghĩa Mác –Lênin và nhiều triết học khác cũng đã lý giải nhiều hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhưng lý giải sâu có hệ thống về hiện tượng tâm linh và có ý thức xây dựng thành một triết học riêng, thì chưa. Ngày nay khoa học, cũng quan tâm nghiên cứu, lý giải nhiều hơn đến các hiện tượng tâm diệu, linh diệu và linh thiêng, và chúng ta cũng biết chiều sâu thâm thúy trong triết lý của đạo Phật về Tâm vũ trụ, tâm thức, linh thức, sắc sắc/ không không… đã cho ta cơ sở hình dung ít ra là giả thuyết về về “Chủ nghĩa duy vật tâm linh”! Đó cũng là loại triết học tích hợp, hay ít ra cũng là trường hợp “mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng” sang lĩnh vực diệu tâm, diệu linh, tâm linh! Làm được điều này cần có sự nghiên cứu hợp tác liên ngành của ngành đạo học (Phật học), khoa học với nhà khoa học, nhà văn hóa và nhà triết học là việc làm hữu ích, có ý nghĩa lớn cả về nhận thức và thực tiễn.

Điều đó là cần thiết khi hiện nay ở Việt Nam các hiện tượng “tâm linh”, “ngoại cảm” (?) đang nở rộ và sự lúng túng trong việc lý giải nó, đâu thực đâu hư đâu giả đâu thật? Có người thì cả tin sái cổ, có người thí bác bỏ, thậm chí có người muốn loại trừ nó! Muốn có thái độ đúng, nhân bản thì các nhà triết học cũng phải nghiên cứu nó có hệ thống, căn bản, lâu dài, không thể “kính nhi viễn chi”.

3- Cuối thế kỷ 20 cũng đã xuất hiện chủ nghĩa duy vật sinh thái (nghiên cứu sinh thái, bảo vệ sinh thái theo quan điểm duy vật hiện đại). Chủ nghĩa duy vật sinh thái cũng rất có ý nghĩa đối với thế ký 21. Vậy thế kỷ 21 này chủ nghĩa duy tâm hay chủ nghĩa duy vật ở lĩnh vực nào là chính? Nó có là vấn đề đấu tranh về thế giới quan của thế kỷ này không? Chúng tôi nghĩ rằng, có thể là lĩnh vực tâm linh! Chủ nghĩa duy vật nhân văn và chủ nghĩa duy vật tâm lnh rất cần xây dựng và phát triển.

Đâu là những vấn đề quan trọng cần nghiên cứu sâu, luận giải rõ ràng của “Chủ nghĩa duy vật tâm linh”? Theo tôi, có thể tạm phác thảo các nội dung lớn sau đây:

(1)- Triết lý Phật giáo, triết học Mác dưới ánh sáng khoa học hiện đại[2].

(2)- Khái niệm tâm linh, các góc độ, cấp độ. Lịch sử vấn đề.

(3)- Vấn đề tâm vũ trụ, sắc sắc/ không không? Nguyên lý sáng tạo, “trí tuệ vũ trụ”(?), Thượng đế?

(4)- Ý thức ở chiều sâu, phản ánh, thông tin, vô thức, trực giác, siêu thức, tưởng thức?

(5) - Vấn đề “linh hồn”, “đầu thai”, “luân hồi”?, thần đồng…

(6)- Vấn đề tiên tri, hậu tri, thần giao cách cảm (đọc suy nghĩ người khác); thấu thị hoặc thấu thính; nhận thức “đa giác quan”….

(7)- Vấn đề dùng sức mạnh tâm trí, sức mạnh năng lượng- thông tin điều khiển vi tính,… hoặc bẻ cong/di chuyển các vật thể vật lý…

(8) - Vấn đề tâm lý hướng về cõi thiêng, cội nguồn, vấn đề tín ngưỡng, đời sống tâm linh.

(9)- Vấn đề “con người tâm linh” và phát triển con người![3]

(10)- Vấn đề phê phán tư tưởng duy tâm, mê tín, lợi dụng “ngoại cảm”, “tâm linh” để làm việc xấu…; và xây dựng quan niệm duy vật, biện chưng, nhân văn về vấn đề phức tạp, khó khăn nhưng cũng rất có ý nghĩa này!

Tất nhiên, vấn đề tâm linh và triết học tâm linh cũng có thể đã và sẽ nảy sinh trường phái. Cần chấp nhận điều đó.

Ở Việt Nam đã có một số ít nhà nghiên cứu về hiện tượng di thường, hiện tượng tâm linh hệ thống, có công trình, dù có thể còn phải tranh luận thẳng thắn, và cũng rất cần tôn trọng, học hỏi lẫn nhau, tất nhiên rồi, nhưng việc làm nói trên rất đáng hoan nghênh!

Nhưng các nhà triết học tham gia nghiên cứu này còn quá ít.

Phải chăng với “chủ nghĩa duy vật tâm linh” là một sự gợi ý, hay một “sự khiêu khích” hơn là một kết luận!

*****
Chú thích:
[1] http://phungquangthanh.net/ngoai-cam-la-nguy-khoa-hoc.html
[2] Xem Hồ Bá Thâm, Chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp luận phê phán và phát triển huện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 2013, 572 trang (Đây là tác phẩm được HĐLLTW đánh giá cao: có nhiều điểm mới, sắc sảo, nhạy bén trong đấu tranh tư tưởng và phát triển lý luận, nhất là về phương pháp luận, công trình có giá trị cao về khoa học, lý luận và thực tiễn), trang 221-278; 301-427.
[3] Xem Hồ Bá Thâm, Phương pháp luận duy vật nhân văn, nhận biết và ứng dụng, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2005, 300 trang.



Sàng lọc và đào thải doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ


Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong tháng Bảy, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới của cả nước là 5083 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 31518 tỷ đồng, giảm 16,5% về số doanh nghiệp và giảm 45% về vốn đăng ký so với tháng trước. Số lao động dự kiến được tạo việc làm tại các doanh nghiệp mới thành lập trong tháng là 88 nghìn người, giảm 1,1% so với tháng trước.


Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký của cả nước trong tháng Bảy là 4931 doanh nghiệp, giảm 22,6% so với tháng trước, bao gồm: 859 doanh nghiệp giải thể; 950 doanh nghiệp đăng ký tạm ngưng hoạt động có thời hạn: 3122 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động trong tháng Bảy là 1106 doanh nghiệp, giảm 16,7% so với tháng trước.

Tính chung 7 tháng, cả nước có 42398 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 262,4 nghìn tỷ đồng,giảm 7% về số doanh nghiệp và tăng 17,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 7 tháng là 6,19 tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2013. Số lao động dự kiến được tạo việc làm tại các doanh nghiệp mới thành lập trong 7 tháng là 629,2 nghìn người, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước.

Quá trình sàng lọc, đào thải doanh nghiệp diễn ra kha mạnh trong cả nước. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngưng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký của cả nước trong 7 tháng là 37612 doanh nghiệp, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: 5610 doanh nghiệp giải thể: 6774 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 25228 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Tổng vốn của các doanh nghiệp thực sự khó khăn, chắc chắn phải ngừng hoạt động là 291,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 84,5% tổng vốn bổ sung thêm trong kỳ. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 7 tháng là 9428 doanh nghiệp, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước.

Về tình hình đăng ký doanh nghiệp theo ngành hoạt động 7 tháng qua, sản xuất, phân phối điện, nước, ga tăng 16% về số doanh nghiệp thành lập mới và giảm 32,8% về số doanh nghiệp khó khăn, giải thể hoặc ngừng hoạt động so với cùng kỳ năm 2013.

Đầu tư FDI tăng nhẹ

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Bảy ước tính đạt 20756 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 4911 tỷ đồng; vốn địa phương 15845 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 111561 tỷ đồng, bằng 60,2% kế hoạch năm và tăng 3% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, vốn Trung ương quản lý đạt 25615 tỷ đồng, bằng 64,8% kế hoạch năm và tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn địa phương quản lý đạt 85946 tỷ đồng, bằng 59% kế hoạch năm và tăng 3,6% so với cùng ký năm 2013. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 59590 tỷ đồng, bằng 57,2% và tăng 3,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 21266 tỷ đồng, bằng 62,2% và tăng 3,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 5090 tỷ đồng, bằng 69% và giảm 0,8 %.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/7/2014 thu hút 889 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 6858,7 triệu USD, tăng 17,7% về số dự án và giảm 0,9% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 300 lượt dự án đã cấp vốn bổ sungvới 2677,9 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 9536,6 triệu USD, tiảm 19,9% so với cùng ký năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 7 tháng năm nay ước tính đạt 6,8 tỷ USD, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong 7 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 6662,2 triệu USD, chiếm 69,9% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1130,8 triệu USD, chiếm11,9%; ngành xây dựng đạt 547,6 triệu USD, chiếm 5,7%; các ngành còn lại đạt 1196 triệu USD, chiếm 12,5%.

Cả nước có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 7 tháng, trong đó Bắc Ninh có số vốn đăng ký lớn nhất với 1261 triệu USD, chiếm 18,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 981,1 triệu USD, chiếm 14,3%.

Trong số 44 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư nước ngoài cấp mới tại Việt Nam 7 tháng qua, Hàn Quốc tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với 2407 triệu USD, chiếm 35,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 1004,9 triệu USD, chiếm 14,7%; Nhật Bản 643,4 triệu USD, chiếm 9,4%; Xin-ga-po 592,5 triệu USD, chiếm 8,6%; Đài Loan 405,9 triệu USD, chiếm 5,9%; In-đô-nê-xi-a 352,7 triệu USD, chiếm 5,1%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 254,6 triệu USD, chiếm 3,7%.

QP

(ISSTH sưu tầm)



Tin tức chọn lọc số 567


567. Các trường đại học thế giới đang thi nhau vượt trội: Theo báo cáo của “Academic Ranking of World Universities (ARWU)” về xếp hạng các trường đại học nổi trội trên thế giới hằng năm cho thấy Đại học Harvard, Mỹ, vẫn ung dung đứng đầu bảng xếp hạng. Trong tốp 10, có hai đại diện duy nhất ngoài Mỹ đều là các trường đại học của Anh với ĐH Cambridge xếp thứ 5 và ĐH Oxford xếp thứ 10. Liên hiệp Anh có 38 đại diện, lại có thêm 1 đại diện trong tốp 500 so với năm 2013, đó là Brunel University London. Các trường đại học ở London có sự thăng tiến mạnh với University College London (UCL), Imperial College London và King College London đều tăng thứ hạng, trong đó, UCL tăng 1 bậc lên hạng 20 và Imperial tăng 2 bậc lên hạng 22. Đại học Manchester tăng 3 bậc lên hạng 38 trong khi ĐH Nottingham rớt khỏi tốp 100.

Các trường ĐH châu Á bứt lên nhanh, bám đuổi sát các trường ĐH phương Tây, trong đó phải kể đến Trung Quốc. Hiện Trung Quốc có 32 trường ĐH trong tốp 500 trường ĐH hàng đầu thế giới, tăng 28 trường so với xếp hạng năm 2013. Tuy chưa có trường nào trong tốp 100, nhưng ba trường ĐH hàng đầu của Trung Quốc là Bắc Kinh, Thanh Hoa, Jiao Tong Thượng Hải đã lọt vào nhóm vị trí thứ từ 101-150.

Vấn đề xét để xếp hạng các trường ĐH, ARWU đã căn cứ vào cả thành tích giảng dạy lẫn nghiên cứu khoa học.

ISSTH sưu tầm - 20-8-2014



Tin tức chọn lọc số 566


566. Hội đồng Tiền lương quốc gia với 63,3% số phiếu tán thành đã nhất trí đề xuất tăng lương tối thiểu vùng năm 2015 từ 300 - 400 nghìn VNĐ/tháng, mức tăng dao động tăng khoảng 15% so với mức tiền lương năm 2014.

ISSTH sưu tầm - 20-8-2014



Tin tức chọn lọc số 565


565. Báo GD & ĐT số ra ngày 18-8-2014, đăng bài “Thử lý giải hiện tượng học sinh - sinh viên phạm pháp” của tác giả Từ Nguyên Thạch, cho biết tình trạng HS-SV phạm pháp tiếp tục gia tăng cả về tính chất, mức độ nghiêm trọng của các vụ việc. Đó là nhận định được nêu ra trong Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 34/2009 của Bộ GD & ĐT và Bộ Công an về phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự tại các cơ sở giáo dục. 

Báo cáo đưa ra con số thống kê (chưa đầy đủ) từ năm 2009 đến nay, HS-SV liên quan đến 8 nghìn vụ việc pháp luật hình sự, trong đó, các hành vi gây rối trật tự công cộng có 935 vụ, tội phạm ma túy có 357 vụ, giết người có 37 vụ, trên 6 nghìn vụ trộm cướp tài sản. Bên cạnh đó, bạo lực học đường tuy đã được kiềm chế, nhưng vẫn còn xảy ra tại nhiều địa phương. Từ năm 2010 đến nay đã có trên 7.700 HS-SV đánh nhau bị xử lý kỷ luật.

Để khắc phục tình trạng này, nhà trường cần đẩy mạnh giáo dục; gia đình cần quản lý con em mình chặt chẽ, phải thật sự quan tâm đến con cái, thương yêu, gần gũi con cái.

ISSTH sưu tầm - 20-8-2014



19-08-2014

Chuyện học trong gia đình GS Vũ Khiêu


GS Vũ Khiêu có 4 người con, mỗi người đều để lại dấu ấn của mình ở những lĩnh vực khác nhau. Con gái cả của ông là Đặng Thị Quỳnh Khanh, là một cử nhân ngành sử học. Người con trai thứ hai Đặng Vũ Cảnh Khanh - Giáo sư, tiến sĩ ngành xã hội học. Người con thứ ba của GS Vũ Khiêu là Đặng Vũ Hạ, vốn là một kỹ sư vô tuyến điện và người con thứ tư là Đặng Vũ Hoa Thạch là họa sĩ.

GS Vũ Khiêu đặc biệt ngưỡng mộ và cảm phục Nguyễn Trãi và Cao Bá Quát. Ông ngưỡng mộ cách sống trọng nhân cách, không chịu “cúi đầu” trước công danh, quyền lực của hai nhà trí thức lớn này.

Thờ chữ “Tri” để nhắc cháu con

Được người đương thời tôn xưng là “nhà nho cuối cùng” của Việt Nam, mùa xuân này, GS Vũ Khiêu (tên thật Đặng Vũ Khiêu) bước vào tuổi 98. Tôi gặp ông trên giường bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị, trông ông xanh xao vì phải nằm viện suốt hai tuần, nhưng cốt cách của một nhà trí thức lớn vẫn hiển hiện trong đôi mắt sáng, vầng trán cao của ông.

GS Vũ Khiêu được đích thân Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu tặng một kỷ vật, biểu trưng đặc biệt chỉ dành cho những người hiểu biết uyên thâm về Khổng giáo. Những người bạn ngoại quốc vẫn gọi ông là “Lats Confucian” - nhà nho cuối cùng của Việt Nam.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho giáo tại làng học nổi tiếng - làng Hành Thiện (xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), ngay từ nhỏ GS Vũ Khiêu đã học thuộc lòng “tứ thư”, “ngũ kinh” từ người ông nội có tư tưởng kháng Pháp đã từ quan về làng mở trường dạy học. Sau này, GS Vũ Khiêu nghiên cứu về triết học, chịu ảnh hưởng của tinh thần Nho học của Trung Quốc là không quá chú trọng tới chuyện phú quý, công danh, quan tâm nhiều hơn tới cốt cách tinh thần.

Trong lịch sử Việt Nam, GS Vũ Khiêu đặc biệt ngưỡng mộ và cảm phục hai nhà văn hóa lớn là Nguyễn Trãi và Cao Bá Quát. Ông ngưỡng mộ cách sống trọng nhân cách, không chịu “cúi đầu” trước công danh, quyền lực của hai nhà trí thức lớn này.

Tư tưởng của hai nhà văn hóa này ảnh hưởng lớn đến cách sống của GS Vũ Khiêu - một đời sống thiên về tinh thần. Trong nhà ông treo trang trọng một chữ “Tri”, ở dưới đề câu nói của Khổng Tử: “Sinh nhi Tri, học nhi Tri, khốn nhi Tri” (con người sinh ra là để có tri thức, học hành cũng là vì cần có tri thức, rồi khốn khổ cũng là vì tri thức). GS Vũ Khiêu cho biết, ông treo chữ Tri trong nhà với tâm nguyện chấp nhận mọi khó khăn để vươn lên cùng với tri thức. Chữ “Tri” vừa là để răn mình, vừa là để dạy cháu con.

Bầu không khí học thuật

GS Vũ Khiêu có 4 người con, mỗi người đều để lại dấu ấn của mình ở những lĩnh vực khác nhau. Con gái cả của ông là Đặng Thị Quỳnh Khanh, là một cử nhân ngành sử học. Người con trai thứ hai Đặng Vũ Cảnh Khanh - Giáo sư, tiến sĩ ngành xã hội học. Người con thứ ba của GS Vũ Khiêu là Đặng Vũ Hạ, vốn là một kỹ sư vô tuyến điện và người con thứ tư là Đặng Vũ Hoa Thạch là họa sĩ.

Trong số 4 người con của GS Vũ Khiêu, nổi tiếng nhất là GS.TS Đặng Cảnh Khanh và vợ là GS.TS Lê Thị Quý. GS Đặng Cảnh Khanh (SN 1947) nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu thanh niên và hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu truyền thống và phát triển.

GS Vũ Khiêu.

GS.TS Lê Thị Quý - con dâu GS Vũ Khiêu - là nhà nghiên cứu đầu ngành về giới và gia đình, nổi tiếng với những cuốn sách bình đẳng giới, phong trào nữ quyền rất được nể trọng. Dù đã về hưu nhưng GS.TS Lê Thị Quý vẫn lao động không ngừng nghỉ, bà là Viện trưởng Viện Nghiên cứu giới và phát triển, tham gia nhóm chuyên gia tư vấn về các vấn đề giới và gia đình cho Quốc hội…

Nói về không khí học thuật trong gia đình nhà chồng, GS Lê Thị Quý cho biết: Ngày mới về làm dâu, bà rất ngạc nhiên và cũng thích nhất là không khí học thuật mà GS Vũ Khiêu luôn tạo ra, cũng như mang về gia đình. Cụ sống bình dân nhưng rất quảng giao.

Cụ kết bạn và chơi thân thiết nhiều bậc văn hóa, trí thức nổi tiếng ngày trước như nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, nhà thơ Hoàng Trung Thông, họa sĩ Văn Sáng, họa sĩ Mai Văn Hiến, họa sĩ Trọng Kiệm, nhà điêu khắc Diệp Minh Châu, đạo diễn cải lương Chi Lăng. Ông còn viết chung cả kịch với nhà thơ Lưu Trọng Lư. Trong giới khoa học, ông là bạn tâm giao với GS Trần Văn Giàu, nhà triết học Trần Đức Thảo, GS Trần Quốc Vượng, GS Nguyễn Hồng Phong, nghệ sĩ điện ảnh Pháp Hoàng Thị Thế (con gái của cụ Hoàng Hoa Thám với Bà Ba nổi tiếng).

GS Quý kể, vốn sẵn đam mê khoa học xã hội nên không khí học thuật giữa GS Vũ Khiêu và bạn bè đã trở thành nguồn cảm hứng cho sự nghiệp nghiên cứu của bà sau này. Thêm vào đó, ở trong căn nhà dù rất nhỏ hẹp nhưng dường như sách gì cũng có sẵn, chỉ sợ không đủ thời gian để đọc.

Đối với GS Đặng Cảnh Khanh thì không khí học thuật của gia đình đã ngấm từ bé. Mặc dù theo nghiệp cha để làm khoa học nhưng GS Đặng Cảnh Khanh lại đam mê hội họa, âm nhạc và văn chương. Ngồi kể chuyện với tôi, GS Đặng Cảnh Khanh vẫn nhớ như in hình ảnh cha mình cùng nhà thơ Hoàng Trung Thông ngồi nhắm rượu với lạc rang và viết thư pháp. Theo đánh giá của GS Khanh, nhà thơ Hoàng Trung Thông là nhà viết thư pháp đẹp nhất ở Việt Nam. Ông là người chịu ảnh hưởng của trường phái viết chữ thảo theo phong cách của Trương Húc và Hoài Tố ngày xưa, những “cuồng sĩ” Trung Hoa mà mỗi khi viết phải uống rượu thật say.

“Hai cụ là bạn rất thân. Mỗi lần đến nhà tôi chơi, đứng trước cửa, cắp một chai rượu nút lá chuối, nhà thơ lại gọi: “Khiêu ơi, rượu đến đây”. Cứ khi nào uống rượu say là Hoàng Trung Thông lại đòi cha tôi lấy giấy viết thư pháp. Hoàng Trung Thông hồi đó để tóc dài, mỗi lần uống rượu say mà ngồi viết thư pháp trông ông đẹp lắm, mặt đỏ, râu tóc dựng ngược. Tôi mê cái chất nghệ sĩ phóng khoáng nơi con người ông. Có lẽ vì thế mà tôi rất thích hội họa. Hồi học cấp 2, tôi đã thi vào Trung cấp Mỹ thuật nhưng bố tôi lại muốn tôi nối nghiệp khoa học nên tôi cũng đành theo. Tuy theo đuổi con đường khoa học nhưng tôi chưa bao giờ hết đam mê nghệ thuật”, GS Khanh nói.

Một người bạn khác của GS Vũ Khiêu cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất nghệ thuật trong con người của GS Đặng Cảnh Khanh là nhà văn Nguyễn Tuân. Khi nhỏ, mỗi lần đi ăn cùng với cha và nhà văn Nguyễn Tuân, ông thấy nhà văn thường vào tận bếp, chỉ dẫn cho đầu bếp cách nấu nướng. GS Khanh cho rằng, chính lối tư duy sâu sắc và cách viết của nhà văn Nguyễn Tuân đã ảnh hưởng nhiều đến ông, giúp ông có được một lối diễn đạt khoa học riêng, không khô cứng.

Dù theo nghiệp cha làm nghiên cứu khoa học nhưng GS Đặng Cảnh Khanh còn có “tài lẻ” riêng là đam mê hội họa, âm nhạc, văn chương. GS Khanh tiết lộ, ông “nhiễm” niềm đam mê nghệ thuật không phải từ cha mình, mà là từ những người bạn của cha, đó là phong cách nghệ sĩ của nhà thơ Hoàng Trung Thông, là sự tinh tế của nhà văn Nguyễn Tuân…

Mạch nguồn tuôn chảy

Tiếp nối mạch nguồn lấy chữ học làm trọng của cha ông, vợ chồng GS Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý đã rất quan tâm đến việc gìn giữ, phát triển, luôn coi tri thức làm trọng. Thế hệ thứ 3, thứ 4 của gia đình GS Vũ Khiêu vẫn giữ được đậm nét chất văn hóa gia đình nho học này.

Người con trai của GS Khanh là Đặng Vũ Cảnh Linh được bố mẹ và ông bà cho tiếp xúc với sách từ rất sớm. Những năm tháng tuổi thơ của Cảnh Linh được “bơi” giữa cơ man là sách. Đó là những năm 70, sau giải phóng miền Nam, GS Vũ Khiêu được lệnh vào miền Nam để thành lập và phát triển Viện Khoa học xã hội tại TP Hồ Chí Minh. Vợ chồng GS Cảnh Khanh và Lê Thị Quý cũng phải theo cụ vào đó.

“Sau giải phóng người ta lo kinh tế nhiều hơn nên sách vở tuồn hết ra vỉa hè bán như đồng nát. Cứ vào Chủ nhật, vợ chồng tôi lại vác bị ra vỉa hè đối diện với chợ Bến Thành để mua sách mang về xếp đầy nhà. Chúng tôi sung sướng lắm vì trên giá sách, trên bàn học, bàn ăn cơm, đầu giường ngủ…ở đâu cũng có sách, mà toàn là sách quý”, GS Quý kể.

Để bồi đắp niềm đam mê đọc sách ở con, vợ chồng GS Đặng Cảnh Khanh thường xuyên đọc sách cho con nghe. Lên 10 tuổi, Cảnh Linh đã thông thuộc sử ta và có lần nói với GS Trần Quốc Vượng: “Mẹ cháu không phải là nhà sử học mà chỉ là mẹ của nhà sử học thôi”. Lúc này, bà Quý đang học lấy bằng Tiến sỹ lịch sử ở Liên Xô (cũ), trước đó bà là học trò của thầy Vượng.

Lớn lên, nối nghiệp ông và bố, Cảnh Linh đi theo con đường nghiên cứu triết học. Đặng Vũ Cảnh Linh đang là Phó Trưởng ban phụ trách Ban thông tin và Phổ biến kiến thức (Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam). Ngoài làm khoa học, anh còn làm thơ, đam mê âm nhạc giống bố. Anh vừa xuất bản một tập thơ và phát hành hai đĩa nhạc gồm các bài hát do chính mình sáng tác mang tên “Tia nắng đêm” và “Cơn mê trong nắng vàng”. Cảnh Linh cũng là người ham mê đọc Kinh dịch, được nhiều người nhận xét là một “nhà tử vi” có hạng.

GS Vũ Khiêu tâm sự, trong việc giáo dục con cháu, ông luôn đề cao sự tự do về tư tưởng, cảm xúc, không bao giờ ép buộc con cái phải tuân theo ý mình. Ông luôn đòi hỏi các con phải tự lập, sống bằng sức lao động của mình. “Là người phóng khoáng nhưng dường như không khi nào ông bao cấp cho con cái. Ông yêu cầu các con phải đi làm sớm, phải vừa học vừa làm, giao việc nghiên cứu để con có thu nhập chứ không cho tiền”, GS Khanh kể.

Ở tuổi 98, ít ai biết GS Vũ Khiêu vẫn miệt mài viết, dịch, nghiên cứu học thuật. Con cháu của ông vẫn tiếp tục được truyền lửa bằng sự lao động và học tập nghiêm túc, lấy tri thức là lẽ sống của cha ông để hoàn thiện mình. Tri thức là nguồn cội của văn hóa, văn hóa lại là linh hồn của dân tộc, vận hội của đất nước vì thế được thắp lửa bằng sự lao động học tập nghiêm túc từ những truyền thống quý báu gia đình.

Theo Gia đình Xã hội



Thông tin từ ISSTH

Thông tin tổng hợp

Kho số liệu của ISSTH

Diễn đàn trí thức

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Đào tạo

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn