22-10-2014

10 người có chỉ số IQ cao nhất mọi thời đại

Trang Opishposh mới đây tổng hợp ra danh sách 10 người có chỉ số IQ cao nhất mọi thời đại. Trong đó có một số nhân vật nổi tiếng thế giới như Albert Einstein, Leonardo da Vinci.
Nhập mô tả cadsdcsdasdho ảnh

10. Stephen Hawking - chỉ số IQ 160: Stephen Hawking (sinh năm 1942 tại Oxford, Anh) là một nhà vật lý lý thuyết, vũ trụ học nổi tiếng. Ông hiện là giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Vũ trụ học lý thuyết thuộc ĐH Cambridge. Ông bị mắc một căn bệnh về thần kinh vận động liên quan tới hội chứng teo cơ bên, khiến liệt toàn thân và phải giao tiếp qua thiết bị hỗ trợ phát giọng nói. Hawking là người đầu tiên khởi đầu một nền vũ trụ học dựa trên sự thống nhất giữa thuyết tương đối tổng quát và cơ học lượng tử. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách phổ biến khoa học, trong đó nổi bật nhất là A Brief History of Time -  một trong những cuốn sách bán chạy nhất trên toàn thế giới (với 10 triệu bản). Stephen Hawking từng vinh dự nhận Huân chương Tự do Tổng thống, giải Wolf, là thành viên của Hội nghệ thuật Hoàng gia và Viện hàn lâm khoa học Giáo hoàng.
Nhập mô csdcdvcxctả cho ảnh

9. Albert Einstein - chỉ số IQ 160 - 190: Albert Einstein là nhà vật lý lý thuyết sinh ra ở Đức. Ông là người phát triển thuyết tương đối tổng quát - một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại. Ông được biết đến nhiều nhất qua phương trình về sự tương đương khối lượng - năng lượng E = mc2 (được xem là phương trình nổi tiếng nhất thế giới). Einstein được trao giải Nobel vật lý năm 1921 cho những cống hiến đối với vật lý lý thuyết và cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện. Do có khả năng rất đặc biệt nên sau khi qua đời, các nhà nghiên cứu đã tiến hành bảo vệ và giải phẫu não của ông để tìm kiếm manh mối sáng chế, nhưng đến ngày nay, nó vẫn còn là một ẩn số.
8. Judit Polgar

8. Judit Polgar - chỉ số IQ 170: Judit Polgar (sinh năm 1976 tại Hungary) là một trong những nữ kiện tướng đầu tiên của làng cờ vua thế giới, được mệnh danh là người phụ nữ chơi cờ vua hay nhất mọi thời đại. Từ nhỏ, cô đã được cha mình đào tạo chơi cờ vua. Trong sự nghiệp của mình, cô đã từng đánh bại nhiều nhà vô địch thế giới như Garry Kasparov, Boris Spassky, Anatoly Karpov...
7. Leonardo da Vinci - chỉ số IQ 180-190:

7. Leonardo da Vinci - chỉ số IQ 180-190: Leonardo da Vinci là chuyên gia trong nhiều lĩnh vực như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, toán học, kỹ thuật, địa chất, đo đạc bản đồ, văn học. Ông đại diện cho con người thời kỳ Phục hưng và được coi là một thiên tài toàn năng người Ý. Leonardo là tác giả của kiệt tác Mona Lisa, Bữa ăn tối cuối cùng... Ông còn là người có những ý tưởng vượt trước thời đại của mình, đặc biệt là khái niệm về máy bay trực thăng, xe tăng, dù nhảy, sự sử dụng hội tụ năng lượng mặt trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép cùng nhiều sáng chế khác. 
6. Marilyn Vos Savant - chỉ số IQ 190:

6. Marilyn Vos Savant - chỉ số IQ 190: Marilyn Vos Savant (sinh năm 1946 tại St Louis, Missouri) là tác giả, nhà viết kịch nhưng lại chỉ nổi tiếng khi được có mặt trong sách kỷ lục Guinness với tư cách là người phụ nữ có chỉ số IQ cao nhất thế giới vào giai đoạn 1986-1989. Cô là tác giả của cuốn Ask Marilyn - từng được đăng tải vào chủ nhật hàng tuần trên tạp chí Parade, trong đó cô giải quyết các câu đố và câu hỏi từ độc giả dành cho mình.
5. Garry Kasparov - chỉ số IQ 194:

5. Garry Kasparov - chỉ số IQ 194: Garry Kasparov là một đại kiện tướng cờ vua người Nga và được ví là kì thủ mạnh nhất trong lịch sử. Kasparov từng là nhà vô địch cờ vua thế giới không ai có thể đánh bại trong khoảng thời gian 1985-1993. Năm 1999, ông từng chơi cờ vua đối đầu với hơn 50.000 đại biểu từ khoảng 75 quốc gia. Kasparov đã 11 lần giành giải thưởng Oscar cờ vua và tuyên bố giải nghệ vào năm 2005 vì cảm thấy không có đối thủ ngang tầm. Sau đó, ông tham gia các hoạt động chính trị. Ông chủ trương đường lối dân chủ, ủng hộ phe đối lập ở Nga và chống lại tổng thống Putin. 
4. Kim Ung-Yong - chỉ số IQ 210:

4. Kim Ung-Yong - chỉ số IQ 210: Kim Ung-Yong (sinh năm 1963) là một kỹ sư dân dụng từng làm việc tại NASA và là thần đồng nhí người Hàn Quốc. Ông biết nói khi mới 6 tháng tuổi và có thể nói tiếng Nhật, Hàn, Đức, Anh và nhiều ngôn ngữ khác khi lên 3. 4 tuổi, ông đã nhớ được khoảng 2000 từ tiếng Anh và tiếng Đức. Lên 7 tuổi, Kim Ung-Yong sang Mỹ để học tập và nghiên cứu theo lời mời của NASA (Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ). Ông đã hoàn thành chương trình đại học và cuối cùng lấy được bằng tiến sỹ về Vật lý của ĐH bang Colorado trước năm 15 tuổi. Năm 1978, ông quyết định trở về Hàn Quốc làm giáo viên và công tác tại ĐH quốc gia Chungbuk cho đến tận bây giờ.
3. Christopher Hirata - chỉ số IQ 225:

3. Christopher Hirata - chỉ số IQ 225: Christopher Hirata là người Mỹ gốc Nhật theo học các khóa ngang tầm trình độ đại học khi chỉ mới 12 tuổi. Ở tuổi 13, anh trở thành người Mỹ trẻ tuổi nhất từng giành huy chương vàng tại Olympic Vật lý quốc tế năm 1996. Anh làm việc tại NASA năm 16 tuổi và lấy bằng tiến sĩ tại ĐH Princeton lúc 22 tuổi. Hirata hiện làm giảng viên dạy vật lý thiên văn tại học viện Công nghệ California.
2. Terence Tao - chỉ số IQ 225-230:

2. Terence Tao - chỉ số IQ 225-230: Terence Tao là nhà toán học người Úc chuyên về giải tích điều hòa, phương trình đạo hàm riêng, lí thuyết tổ hợp, lí thuyết số giải tích và lí thuyết biểu diễn. Ông là giáo sư toán tại trường ĐH California, Los Angeles từ năm 24 tuổi. Tao từng được trao huy chương Fields cho những đóng góp về Toán học - giải thưởng cao quý nhất dành cho các nhà toán học. Khi 2 tuổi, anh đã giải được nhiều bài toán khó. Năm 16 tuổi, Tao đã lấy cả bằng cử nhân và thạc sĩ tại ĐH Flinders.
1. William James Sidis - chỉ số IQ 250 - 300:

1. William James Sidis - chỉ số IQ 250 - 300: William James Sidis (sinh năm 1898 tại New York, Mỹ) bắt đầu đọc báo lúc 18 tháng tuổi. Ông đã viết 4 cuốn sách về giải phẫu và thiên văn học, thành thạo 8 ngoại ngữ: Hy Lạp, Pháp, Nga, Đức, Do Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, Armeni và Vendergood (ngôn ngữ do chính William sáng tạo ra) khi chưa tròn 8 tuổi. 9 tuổi, William tham gia hội nghị chuyên đề của Havard về không gian 4 chiều. 2 năm sau, ông được nhận vào Havard và tốt nghiệp năm 16 tuổi. William trở thành giáo sư toán tại ĐH Rice nhưng do bị sinh viên chê là “giáo sư trẻ con” nên ông đã từ bỏ sự nghiệp dạy học. Với chỉ số thông minh đạt 250-300, William thường được nhắc đến là người thông minh nhất trong lịch sử thế giới.

Trần Linh.

GS.HOÀNG MINH GIÁM

NHỚ VỀ CHA

Hoàng Vĩnh Giang

Cha tôi với ATK Tuyên Quang

Mỗi khi đứng trước ban thờ, khấn xin người cha kính yêu phù hộ cho toàn gia may mắn, cho sự nghiệp TDTT mà ông đã cổ vũ tôi theo đuổi cả cuộc đời được thuận buồm xuôi gió thì hình ảnh linh thiêng của Người lại hiện lên với một nụ cười thân thương không bút nào tả xiết. Ở tuổi lục tuần ước gì được cảm nhận nụ cười đó thêm dù chỉ một lần!
Cuộc đời cống hiến cho cách mạng của cha tôi đã từng được ghi lại thành sách, trong các bút ký, các tài liệu lịch sử của bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Quốc hội, Ủy ban TWMTTQ Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam với nhân dân các nước và cũng đã được nhắc đến trong các dịp kỷ niệm ngày sinh của ông do các học trò trường Thăng Long, các đoàn thể tổ chức. Song chắc chắn chưa có ai viết về cuộc sống bình dị của người theo góc độ là người cha, người trụ cột của một gia đình lớn của chúng tôi.
Là một trí thức cách mạng của một gia tộc có truyền thống nhiều thế kỷ, cha tôi đã vinh dự được theo Bác Hồ từ những ngày đầu các mạng Tháng Tám rồi sau đó đi kháng chiến lên chiến khu Việt Bắc (ATK), tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.
Được nghe mẹ và các cô chú kể lại, tôi cảm nhận từ những câu chuyện đó có những nét nào đó rất lãng mạn. Rời xa chốn phồn hoa Hà thành lên chiến khu là cả một chặng đường dài đầy gập gềnh chông gai. Mặc dù là gia quyến của nhân sĩ, cán bộ cao cấp của Bộ Ngoại giao nhưng cũng như những người khác chúng tôi thường xuyên không đủ ăn. Dọc đường, có nhiều lúc phải ăn cơm hoặc thức ăn xin được của đồng bào thiểu số giành cho gia súc. Việc ăn rau tàu bay, lá khoai, lá sắn là thường xuyên. Cha tôi nói đùa với cả nhà rằng: “Mình cũng là một gia súc cấp cao. Nếu không ăn thì lấy đâu ra sức mà đến được ATK”. Các cô chú ở Bộ Ngoại giao khi qua Phú Thọ đã mua cho ông một con ngựa để cưỡi trên hành trình vất vả. Cha tôi đặt tên cho con ngựa là “Phú Thọ”. Chú ngựa này đã theo ông trong suốt những năm kháng chiến. Cơ quan đã chọn địa điểm và dựng cho gia đình một căn nhà sàn tại một hẻm núi ở Lũng Cò, châu Sơn Dương, Tuyên Quang. Chỗ này từ đó đến nay có tên là thung lũng “Ông Minh” - tên bí danh của cha tôi.


Hồi đó mới chỉ 3-4 tuổi nhưng mỗi lần ông đi công tác, tôi giành bằng được chiếc gối của ông nằm để có được “mùi ba” khi nằm ngủ. Mỗi khi ông cưỡi con Phú Thọ từ Bộ Ngoại giao cách nhà 5 km về, tôi thường chờ ông bước tới nhà sàn thì hét lên rồi nhảy từ trên xuống, ba tôi đã tóm gọn thằng con một cách rất điệu nghệ. Sau này tôi trở thành một vận động viên nhảy cao, không biết có mối liên hệ nào giữa “năng khiếu” nhảy từ nhà sàn có độ cao 1.8 m xuống để bố đỡ với nghề nhảy cao chuyên nghiệp sau này của tôi không?
Một nhà giáo mẫu mực
Việc bố tôi là hiệu trưởng trường Thăng Long, Hà Nội, tham gia dạy học với các bậc trí thức như các bác Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Lân… đã vất vả lại còn phải chống chèo với thực dân Pháp để đào tạo ra một thế hệ những học trò xuất sắc, lực lượng trí thức yêu nước của cách mạng sau này. Nhưng bản thân tôi lại có một hồi ức vô cùng đậm nét về cha tôi - một nhà giáo. Đó là thời điểm năm 1962-1963, lúc đó tôi đang học cấp III ở trường phổ thông III B (Nay là trường Việt Đức, Hà Nội). Là một học sinh gần ở mức cá biệt, tôi chỉ kha khá ở ngoại ngữ, sinh vật, địa lý, nhưng cực dốt về toán và hóa. Ba tôi cũng biết yếu điểm của các con, trong đó có tôi. Nhiều lần ông đến bên bàn hỏi: “Có gì nan giải không?”. Tôi đưa ngay cho ông một bài hình học không gian mà tôi loay hoay cả tối vẫn không giải được. Ông xem và nói: “Đưa ba quyển giáo khoa nào”. Ông xem khoảng 20 phút, lúc đó đã là 11 giờ 30 tối. Tôi đã ngủ gà ngủ gật. Ông vào phòng học gọi tôi dậy và giảng cặn kẽ bài toán hình học. Tôi như trút được gánh nặng vì đã trả được bài hôm sau, nhưng nhìn ông cho đến bây giờ tôi vẫn không quên được nét mặt mệt mỏi nhưng hiền từ và mãn nguyện ấy của cha. Tôi kể cho một vài người bạn về việc này. Họ nói “Đây là một minh chứng cho thấy không phải chức Hiệu trưởng trường Thăng Long nổi tiếng là hư danh”. Quả thật, ngày xưa các cụ được đào tạo hết sức căn bản, cộng với năng lực cá nhân mà qua 40 năm ông vẫn còn giải được một bài toán khó cho con trai.

Một người cha hiền từ

Công tác bận là thế, nhưng cha tôi còn đủ thời gian thể hiện tình thương vô hạn đối với các con. Trong nhà tôi có cô em gái Hoàng Vĩnh Hảo (hiện đang công tác tại Ban Tuyên giáo thành ủy thành phố HCM) bị yếu phổi bẩm sinh, mỗi khi về nhà thấy cô con gái quặt quẹo, ho hen, ông rất buồn và luôn tìm nhờ mua các loại thuốc cho con uống. Đặc biệt, hàng đêm, ông đích thân bế cô em gái là Hoàng Vĩnh Hạnh (Hiện là cán bộ Bảo tàng LSQG) vào toa lét “xi tè”. Việc này thật là không dễ đối với một người cao tuổi, và bận rộn công việc trong ngày, song ông làm việc này đều đặn với một tình thương bao la và tất nhiên với sự gắng sức của một người cha bận rộn công việc quốc gia.
Văn hóa không đánh giá qua nghề nghiệp
Gia đình tôi có nhiều anh chị em, mỗi người theo một ngành nghề khác nhau. Có người theo nghề xây dựng, người theo nghề ngoại giao, người làm việc trong ngành văn hóa, thể dục thể thao. Tôi muốn nói về một nhận định của bố tôi mà cho đến nay càng ngẫm càng thấm sự thâm thúy, sâu xa. Thời đó, nhiều người hỏi ông: “Bác là một nhà văn hóa, nhà giáo, nhà ngoại giao, tại sao lại cho anh Giang theo nghề thể dục thể thao? Khái niệm nghề thể thao là “Đầu óc ngu si, tứ chi phát triển” là rất phổ biến ở thời điểm đó. Ông mỉm cười nói: “Nó đã được anh Tạ Thúc Bình nhận là học sinh trường Cao đẳng Mỹ thuật, nhưng vì yêu thể thao nên nó xin đi học tiếp để tập ở trường Năng khiếu thể thao Hà Nội (Tôi đã được cha cho học vẽ ở Hàng Trống, nơi họa sĩ nổi tiếng Mạnh Quỳnh dạy 4 năm). Tôi cho rằng nó thích thể thao thì nên khuyến khích vì thể thao chính là văn hóa thể chất”. Cụ còn dẫn từ thể dục thể thao tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Nga đọc ra sao. Ông còn nói: “Văn hóa cao hay thấp theo tôi không nằm trong nghề nghiệp nào đó, nó nằm ở nền tảng giáo dục mà một con người đã tiếp thu được. Không có sự phân biệt nghề nào được cho là sang hay hèn, lao động chân tay hay lao động trí óc. Điều chính là cần sống, ứng xử và cống hiến theo sự nhận thức mà cá nhân đó có được sau quá trình được giáo dục trải nghiệm cuộc sống. Tôi thấy điều này đúng vì nếu người nông dân thức ngộ tốt đạo làm người còn hơn rất nhiều một trí thức lại có những hành vi không mang lại lợi ích cho đời”.
Theo lời dạy bảo của cha, tôi đã không hề mặc cảm, nguyện làm một vận động viên thể thao và không ngừng cố gắng tích lũy kiến thức cho nghề nghiệp, tuân thủ sự lựa chọn của mình theo phương hướng nâng cao, khai thác, bổ sung cho hình ảnh một vận động viên, HLV, một cán bộ công tác trong lĩnh vực thể dục thể thao thêm nhiều chất văn hóa.
Nhà văn hóa mẫu mực của châu Á
Đó là một nhận định của cố Bộ trưởng Bộ Văn hóa Liên bang CHXHCN Xô viết Phursheva, Ủy viên Trung ương Đảng CSLX (cũ). Hồi cuối những năm 60, đầu 1970, khi tôi đang theo học Đại học thể dục thể dục thể thao tại thành phố Kiev Ucraina. Bố tôi thường đi sang họp tại Liên xô hoặc transit tại Mátscơva. Thỉnh thoảng tôi xin nhà trường cho lên Mátscơva để gặp cha. Có lần tôi được ông thư ký của bà Bộ trưởng tâm sự như sau: “Bà ấy rất hiếm khi ra tận máy bay để đón khách, nhưng đối với papa của cậu thì khác, bà dặn chúng tôi rất kỹ rằng tavarish (đồng chí) Hoàng Minh Giám là một nhà văn hóa mẫu mực của châu Á. Chúng ta phải đón tiếp chu đáo con người này…” Ông thư ký còn nói đùa nhiều người ở Bộ Văn hóa Liên xô trêu bà là chắc ông Giám cũng một phần là một mỹ nam tử và lại rất có duyên trong giao tiếp nên bà thấy phần nào thân mật hơn các mister khác (Bà rất giỏi tiếng Pháp và tiếng Ý nên cha tôi giao tiếp với bà không cần qua phiên dịch).

Trọn đời cống hiến cho đất nước

Tôi không có cơ may được thấy sự vất vả của cha tôi khi tham gia phong trào cách mạng, nhưng hình ảnh ông cưỡi ngựa vượt đèo về nhà thì tôi còn nhớ như in. Trong một lần, tôi và cậu con trai tôi cùng xem phim Cao bồi Mỹ “Tên tôi là vô danh” ( My name is nobody) có ông Henry Fonda bố của Jane Fonda -ngôi sao màn bạc đoạt 2 giải Oscar đã từng chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đóng, tôi nói đùa với con: “Con biết không, ngày xưa trên chiến khu trong rừng chiều, ông con cũng cưỡi ngựa nhong nhong “bên đèo lắng suối reo, ngàn thông réo” như thế đấy (Tất nhiên tôi không nói thêm là con Phú Thọ ngày xưa nó quá bé so với con ngựa mà con thấy trên màn hình)”.
Những ngày ở cố định tại ngôi nhà thân yêu số 8 Phạm Đình Hổ là quãng thời gian đầy ắp những kỷ niệm của gia đình tôi. Chúng tôi đã chứng kiến, lắng nghe những bước chân rất nhanh nhẹn, chắc chắn của cha khi tan tầm bước lên tầng hai lúc còn sung sức mỗi khi đi làm về hoặc trở về nhà sau những buổi tiếp khách quốc tế. Những tiếng bước chân đó theo năm tháng ngày càng chậm hơn, nặng nề hơn và đôi khi ngắt quãng. Anh chị em trong nhà đều tranh nhau chạy xuống xách cặp cho ba. Còn tôi nhiều lúc vừa rưng rưng nước mắt vừa liên tưởng người cha thân yêu của anh em chúng tôi đã từng cưỡi ngựa vượt đèo vượt suối, đã từng đối mặt với quân thù trên mặt trận ngoại giao, đã từng nở những nụ cười của một nhà văn hóa mang theo tình cảm của người dân Việt Nam tới những bạn bè quốc tế. Là trợ thủ đắc lực của Bác Hồ trong những chuyến thăm quan các nước, cha cũng chính là người đã động viên mình theo nghề thể dục thể thao, một nghề mà ông cho là có tính văn hóa cao. Đích thân ông cũng nhiều lần đến tận sân vận động xem con trai thi đấu và lập kỷ lục.
Nguyện noi theo Người
Người ta nói rằng con hơn cha là nhà có phúc, điều này có thể không sai ở những trường hợp nào đó, nhưng ở gia đình tôi câu nói này là một sự xúc phạm. Đối với cha, một nhân sĩ trí thức, với một bề dày cống hiến, một nhân cách lớn, chúng tôi chỉ có thể thề trước vong linh của cụ là sẽ nguyện noi theo Người cống hiến cho đất nước với hết khả năng của mình để không phụ kỳ vọng của cha, không làm hổ danh là dòng dõi, là hậu duệ của cha và của gia tộc có truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng.

BÁN SẮC DÂN TỘC CỦA VĂN HÓA - KHÔNG CHỈ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY MÀ CÒN PHẢI ĐỔI MỚI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ (Ở TP.HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY)

TS. HỒ BÁ THÂM[1]
                               
Trong khoảng 10 năm nay, tôi đã coi vấn đề văn hóa dưới góc nhìn triết học nhân văn thực tiễn với sự ứng dụng trong cuộc sống hiện nay như một hướng nghiên cứu quan trọng của mình. Chúng tôi cũng nghiên cứu khá sâu, có hệ thống về bản sắc văn hóa và vai trò văn hóa quan hệ với tăng trưởng kinh tế trong phát triển bền vững không chỉ ở cấp vĩ mô mà cả cấp trung mô như TPHCM, hoặc vùng văn hóa Nam bộ trong quá trình CNH, HĐH, KTTT[2], và hội nhập quốc tế (HNQT). Và trong 10 năm gần đây, tác giả đã xuất bản, tái bản gần 10 đầu sách trên lĩnh vực này.
Trong nghiên cứu lần này với chủ đề: “Bán sắc dân tộc trong đời sống văn hóa, nghệ thuật TPHCM quá trình hội nhập quốc tế hiện nay”, những gì chúng tôi đã viết xin xem chí tiết trong một số cuốn sách đã xuất bản.[3] Và cũng đã có khá nhiều nghiên cứu chung của nhiều tác giả về vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa. Cho nên, ở đây chỉ tóm tắt và bàn sâu hơn thêm ở lĩnh vực mới, góp phần thảo luận, làm rõ thêm một số khía cạnh mà chúng tôi đang quan tâm hiện nay. Chẳng hạn, phương pháp tiếp cận vấn đề nói trên của hội thảo này như thế nào, cần nhấn mạnh ở điểm nào? Dưới góc nhìn thực tiễn TPHCM đã và đang diễn ra, nó gợi lên những nhận thức gì cần thảo luận, mà nếu không nắm vững nó sẽ dễ lạc đường, lệch lạc, cực đoan, thiếu biện chứng. Trên nhiều lĩnh vực văn hóa thì lĩnh vực văn học và nghệ thuật đặc thù gì khi nói về BSDTCVH? Cần khuyến khích cái gì và khuyến khích tài năng ra sao trên lĩnh vực này?

I- KHÔNG CHỈ BẢO VỆ, PHÁT HUY MÀ CÒN CẦN PHẢI ĐỔI MỚI

Chúng tôi nghĩ rằng cần đặt ra vấn đề như vậy để thảo luận.
1-Trước hết, chúng ta nhận thức bản sắc dân tộc của văn hóa (BSDTCVH)[4] thông qua cái gì?
BSDTCVH là hết sức trừu tượng, không phải một vật mà là một dạng - mạng “vừa sóng vừa hạt” được hình tượng hóa như màu sắc “một miếng thổ cẩm”, hay chất lượng hợp trội của một sự kết hợp các giá trị văn hóa nhất định ở một dân tộc ở một thời lịch sử của nó.
Do vậy, nhận thức BSDTCVH là thông qua hệ giá trị văn hóa mà các giá trị này lại thể hiện qua phong cách tư duy, hành vi, ứng xử, nếp sống của  cá nhân hay cộng đồng, và qua các dạng hữu hình và vô hình của di sản văn hóa. Mà giá trị văn hóa dân tộc trong thực tế vừa có tính chung nhân loại vừa có tính đặc thù dân tộc (mức độ đậm nhạt, cách thể hiện). Chẳng hạn, sống nghĩa tình, giá trị tình nghĩa này dân tộc nào cũng có nhưng ở Việt Nam hay ở Nam Bộ, TPHCM thì có mức độ đậm đà hơn, cách thể hiện cũng khác hơn. Không làm rõ, nắm vững giá trị văn hóa (GTVH) thì nói BSDTCVH là sẽ chung chung, khó phân định.
2- BSDTCVH xuất phát và gắn liền với cái gì?
Theo chúng tôi nó gắn liền với đặc tính dân tộc (dân tộc tính) và xuất phát từ đặc tính dân tộc trong bối cảnh lịch sử cụ thể hình thành nên nó. Bản sắc dân tộc của văn hóa, như vậy đã được định hình trong suốt chiều dài lịch sử, có tính bền vững. Với ý nghĩa đó thì BSDTCVH cũng chính là đặc tính dân tộc (ĐTDT) của văn hóa và ngược lại.
Đặc tính dân tộc Việt Nam với đặc điểm tâm lý tương đối ổn định và có mặt ưu trội[5], có người đã thống kê đến 48 đặc tính (tốt - tính mềm dẻo, giàu nghị lực và không tốt - cố chấp, thành kiến), nhưng nhìn chung khái quát lại là đặc tính trung bình, trung dung,  ít cực đoan, ít mạo hiểm (ví dụ tính thiếu kỷ luật, thiếu trách nhiệm cũng ở mức trung bình).[6] Nhưng chính tính trung dung, cùng với tinh thần cộng đồng này, mà ngay đạo Nho cũng có triết lý như vậy, nên dễ hòa nhập vào Việt Nam.  
3- BSDTCVH có biến đổi, có đổi mới không? Nó có mặt lỗi thời không?
Chúng tôi cho rằng là có. BSDTCVH tuy đã được định hình, có tính bền vững. nhưng vẫn còn biến đổi, bổ sung bằng giá trị văn hóa mới, bản sắc mới. Ngày nay trong giới trẻ ngày nay đã xuất hiện tính mạo hiểm hơn và tính cá nhân, cái tôi đã hình thành như một bản sắc mới bổ sung cho BSDTCVH truyền thống[7]. Trọng tình nhưng nếu duy tình là thái quá (trăm cái lý không bằng một tí cái tình, coi nhẹ cái lý). Trọng lý nhưng nếu thái quá cũng vậy. Tính trung dung, dĩ hòa vi quí, và tính cộng đồng, cũng như tính mạo hiểm, tính cá nhân - cái tôi - có bản sắc, có cá tính… đều có hai mặt tích cực và không tích cực, tùy theo hoàn cảnh.
Không bổ sung, đổi mới phần cái lý, như tư duy khoa học, tinh thần pháp quyền, tính độc lập của cái tôi, cá tính thì nền văn hóa dân tộc không chỉ thiếu tính tiên tiến khó mà còn giàu có bản sắc. Với ý nghĩa đó, phải biến cái lý, cái tôi, cái trọng lý, trọng cái tôi, nội sinh hóa cái trọng lý, cái tôi thành giá trị Việt, từ dó tạo nên bản sắc mới lý - tình. cá nhận - cộng đồng hài hòa - mâu thuẫn trong ứng xử.
Cái gì lỗi thời, hoặc nhược điểm thì phải thay đổi[8] và sẽ thay đổi/ đổi mới trong hoàn cảnh lịch sử mới. Giữ gìn BSVHCDT mà không đổi mới nó, phát huy mà không có sáng tạo mới thì không phải là giữ gìn tích cực.
5- Động lực và sức mạnh văn hóa (ĐLVSMVH) Việt Nam ngày nay chủ yếu đâu?
Có hai loại động lực cơ bản: một là, tiếp thu tinh hoa văn hóa các dân tộc khác với tính cách là giá trị nhân loại (GTNL) và giá trị thời đại (GTTĐ) - không có đột phá ở mặt này (HỘI NHẬP và TIẾP BIẾN) thì không cách tân, đổi mới và phát triển được nền văn hóa dân tộc (NVHDT) lên tầm cao với, không có nền văn hóa tiên tiến (NVHTT); hai là, từ nội lực nền VHDT, phát huy các giá trị VHDT trình xây dựng và phát triển tạo nên nền tảng của bệ phóng.
Nếu không kết hợp tạo hợp lực hai loại động lực này thì không thể thành công, trong hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, trong đó, theo tôi khâu đột phá là tiếp thu, tiếp biến giá trị văn hóa thời đại. Do vậy, tránh quá nhấn mạnh bảo vệ, hay phát huy BSDTCVH mà coi nhẹ tiếp thu, hội nhập, tiếp biến GTVH của nhân loại, nhất là GTVH thời đại, đương đại, tinh hoa văn hóa các dân tộc, quốc gia khác. Bất cứ cực đoan vô lối nào như thế cũng gây nên tác hại.
          Nhìn chung, cái gì cũng có hai mặt. BSDTCVH cũng vậy. Cá GTVH và cả vấn đề HNQT, GLVH cũng thế. Chỉ với cách nhìn biện chứng phức hợp ấy chúng ta mới tiếp cận được sự thật và chân lý mà ở đây là vấn đề văn hóa, BSDTCVH.

          II- ĐỊNH VỊ THỰC CHẤT GIÁ TRỊ DÂN TỘC VÀ GIÁ TRỊ NHÂN LOẠI CỦA VĂN HÓA Ở TPHCM NGÀY NAY.
1-TPHCM là một vùng văn hóa cũng đa dân tộc, đa tôn giáo, đa khu vực vùng miền và đa giai tầng (nền văn hóa “tứ đa”). Theo chúng tôi, mỗi thành phần trong đó có sắc thái, hay bản sắc văn hóa riêng (BSDT hiểu theo nghĩa rộng - quốc gia VN). Không thể phủ nhận đạo Phật, đạo Thiên chúa hay đạo Cao Đài, mỗi tôn giáo có bản sắc riêng về mặt văn hóa, chứ không chỉ về mặt dân tộc, sắc tộc (nghĩa hẹp). Cũng như thế mỗi cư dân ở các vùng miển khác nhau khi vào hội nhập, sinh sống ở TPHCM không thể không có sắc thái văn hóa riêng, tạo nên văn hóa đô thị đa màu sắc.
Do vậy, khái niệm đa văn hóa, đa bản sắc cũng như trong tự niệm là đa dạng sinh học, tạo nên nhóm chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa đặc thù, riêng, nhưng lại có xu hướng thống nhất, thậm chí xét đến cùng là đồng nguyên (thống nhất trong đa dạng, đa dạng mà thống nhất). Tuy rằng, ở VN và Nam bộ - TPHCM khu biệt văn hóa nào (dân tộc, tôn giáo, giai tầng) cũng có tính hai mặt, phù hợp và không phù hợp, nhưng lại bao dung, dung hợp nhau, không bị cực đoan hóa cao độ. Cho nên hầu như ít có xung đột văn hóa giữa các loại văn hóa dân tộc - tôn giáo, văn hóa giai tầng. Nếu không kế thừa, tôn vinh và phát huy các giá trị đa sắc ấy, thì sẽ dẫn đến thực trạng về nền văn hóa nhạt bản sắc mà còn nghèo bản sắc. Cho nên không chỉ là văn hóa đậm đà bản sắc mà còn phải giàu bản sắc mới đúng và phù hợp với thực tế và sự đòi hỏi của thời đại, từ đó biến thách thức thành cô hội.
          2- Nhưng xét ở góc nhìn văn hóa nội địa và văn hóa ngoại lai (nước ngoài), văn hóa truyền thống và hiện đại, văn hóa dân tộc và toàn cầu hóa, dù độ mở, bao dung văn hóa vẫn mạnh hơn, thì thỉnh thoảng cũng có xung khắc ở mặt tiêu cực và tích cực của các giá trị văn hóa. Toàn cầu hóa (TCH), hiện đại hóa (HĐH) có thể xâm lấn, lấn át, làm mờ, làm nghèo BSDTCVH, và ngược lại nhân danh bảo vệ BSDTCVH một cách cực đoan có thể cản trở quá trình TCH, HĐH với tư cách là các mặt xung khắc, loại trừ, nhưng chúng ta cũng thấy giữa hai mặt đó, BSDTCVH và TCH, HĐH, HNQT, nhất là giao lưu văn hóa (GLVH) có sự cần thiết bổ sung cho nhau như quan hệ giữa Cái chung và Cái riêng…
Không bảo tồn, phát huy, đề cao BSDTCVH, với những giá trị văn hóa đăc sắc thì không có GLVH. Bản chất của GLVH là thể hiện các hình thức và giá trị văn hóa khác biệt, giàu bản sắc (GBS)[9], đậm đà bản sắc (ĐĐBS). Điều dễ thấy, nhất là qua các dạng thức văn hóa ẩm thực, văn hóa thời trang, các loại hình văn hóa, văn học, nghệ thuật, như múa, hát, dân ca, ca nhạc, ca kịch, phim ảnh… mà ở nước ta cũng như vùng Nam Bộ, TPHCM khá giàu có.
3- Đâu là bản sắc/ đặc tính độc đáo ở SG -TPHCM? Ai cũng biết SG- TPHCM là nằm trong vùng văn hóa Nam bộ nói chung. Có nhiều tộc người, giai tầng, tôn giáo, và có nguồn gốc cư dân chủ yếu  từ miền trung vào lập nghiệp, nhưng riêng SG -TPHCM thì có đủ 3 miền trung nam bắc. Tuy vậy đặc tính cư dân ở đây từ chiều sâu lịch sử hơn 300 năm tạo nên cốt cách, bản sắc, với nhiều hình thức văn hóa riêng (ca vọng cổ, chẳng hạn) mang tính đặc thù hơn, xét về mặt tích cực là tinh thần trọng nghĩa khi, hào hiệp, trọng nghĩa tình, có cá tính; hoặc khi xét về mặt tốt, hay khi xét về mặt nhược điểm là hay ăn chơi nhậu nhẹt, ít đi sâu vào khoa học, lý luận cơ bản…
SG -TPHCM cũng như ở Nam Bộ cũng đang hình thành tính cách đặc tính của nền văn hóa đương đại: tính khoa học, tinh thần trách nhiệm, tư duy và phong cách làm ăn theo kinh tế thị trường, ý thức công dân, trọng thực tế…[10]. Nghĩa là cả văn hóa và tính cách con người ở đây cũng dần dần thích nghi và thay đổi tạo nên bản sắc có nét mới, tất nhiên trong một thời dài đủ mức cần thiết.
4- Lĩnh vực nào của văn hóa đang có vấn đề đáng quan tâm hiện nay?  Nhìn từ góc độ nói trên, ta thấy, trong ăn mặc, văn hóa thời trang, nhất là thời trang thanh nữ, có nhiều thay đổi theo một thời đại, phù hợp xu thế thời trang mới nhưng có lẽ cái đáng nói là, bên cạnh cáo đa dạng, hiện đại, lại có hiện tượng chạy theo mốt, cách tân cực đoan, “tây hơn cả tây”, đua nhau hở hang quá đáng (thích phô da thịt) và không đúng chổ, có khi hứng lên lại tung lên mạng xã hội nữa, đã gây phản cảm thẩm mỹ dân tộc truyền thống. Nhưng hiện tại lại ít có bài phân tích phê phán. hướng dẫn dư luận về vấn đề này.
Còn lĩnh vực phim ảnh thì hầu như đa phần phim ảnh nước ngoài chiếm lãnh thị phần truyền hình (xét cả số lượng và chất lượng). Hiện tượng Tàu hóa, Hàn hóa bằng phim ảnh làm lu mờ, lấn át các sản phẩm, các giá trị dân tộc Việt đã được báo chí nói tời nhung vẫn chưa được, hay khó được điều chỉnh, khắc phục…
Trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, nếu không mới, không độc đáo, không có cách tân thì không hấp dẫn và không tiến lên được. Song sự cách tân này còn ít và quả là nhiều khó khăn. Nhưng làm mới mà vẫn mang hơi thở, tâm hồn dân tộc, không nhạt… thì mới có chỗ đứng. Có chỗ đứng khi hợp đạo, hợp lẽ đời, hợp xu thế thời đại. Lặp lại, cũ nhầm, là không thích hợp, nhất là trong văn học, nghệ thuật, thơ ca, làm mờ bản sắc, kiểu “công nghiệp hóa”, đồng loạt hóa, mà ta biết như thế thì VHNT lại vô vị và chết. Nhưng bên cạnh đó lại có xu hướng cách tân hình thức, xa rời BSDTCVH, tâm hồn dân tộc…

III- GÓC NHÌN HAI MẶT TRONG LĨNH VỰC VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT VÀ VẤN ĐỀ BSDTCVH, TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ  Ở TPHCM
Tất cả các lĩnh vực đời sống đều có thể được phản ánh vào lĩnh vực văn học, nghệ thuật (VHNT), như tấm gương phản chiếu đầy sáng tạo, dưới góc nhìn ý thức và cảm xúc thẩm mỹ. Nghĩa là thông qua qua trái tim là chính, nhưng là một trái tim có ý tưởng, tư tưởng. Do vậy, nó dễ đi vào lòng người. Chính văn học, nghệ thuật, cùng với giao lưu văn hoa, và sinh hoạt khoa học, hoạt động thương mại đều là vừa qau đó mà tiếp thu giá trị văn hóa nhân loại, giá trị thời đại và cũng từ đó khẳng định BSDTCVH, hiện đại hóa và dân tộc hóa song song với nhau, ảnh hưởng, xâm nhập, biến đổi lẫn nhau. Lịch sử phát triển văn hóa cũng như văn học nghệ thuật đã chứng tỏ như vậy.
Điều đó thể hiện trên nhiều mặt hoạt động của VHNT.
1- Về mặt sáng tạo/ sáng tác. Sáng tác ở đây đồng nghĩa với sáng tạo, không chỉ làm ra mà làm ra một cách mới không chỉ về nội dung mà nhất là thi pháp, cách thức... Qua sáng tác văn xuôi hay thơ ca, làm sao vẫn là ngôn ngữ Việt Nam, SG –TPHCM, tâm hồn VN, SG –TPHCM, nhưng phải vươn tới tư tưởng thời đại và chiều sâu dân tộc, chiều sâu lịch sử… Nhìn chung tác phẩm phải hay, cả tính dân tộc và tính thời đại, cả nội dung và ngôn ngữ, hình tượng và thi pháp, nhưng nếu không mới, không gây được cấn tượng thì khó hấp dẫn người thưởng thức.
 Về mặt biểu diễn và giao lưu. Biểu diễn là sáng tạo lần thứ hai của tác phẩm VHNT. Biểu diễn còn là giao lưu với công chúng. Nó cũng phải hay và mới. Vẫn cần cả tính dân tộc và tính thời đại trong sự kết hợp hài hòa giữa chúng, dù có nặng nhẹ khác nhau tùy theo loại hình.
2- Về mặt “quản lý”. Nói lãnh đạo, quản lý trong VHNT thì chỉ cần định hướng chung về tư tưởng, còn phải tôn trọng sự đa dạng trong sự tự do sáng tác, sáng tạo; cần tao môi trưởng dân chủ, tự do, pháp quyền, đúng luật pháp, tránh kiểm duyệt, cấm đoán chỉ mang tính chỉ đạo chủ quan. VHNT có cả mặt khen ngợi, có cả mặt phê phán, phản biện, như chính hai mặt của hiện thực đời sống. Đó là xu hướng văn học hiện thực, thơ ca hiện thực chứ không phải chỉ là xu hướng lãng mạn. Khen, biểu dương thì không sao, nhưng phê phán, phản biện, dù đã thoáng hơn, nhưng vẫn còn rất e ngại, bị gạt ra, thậm chí bị cấm một cách vô hình, hoặc qui kết, chính trị hóa, hình sự hóa vô lý, phi lý ở đâu đó. Lịch sử VHNT thế giới và Việt Nam đã có nhiều bài học cay đắng này[11]. Hiện nay chúng ta vẫn rất cần VHNT theo hướng hiện thực phê phán. Có lẽ quen với “hiện thực biểu dương” (như trong thời chiến, thời bao cấp) mà ngại “hiện thực phê phán”, phê phán mang tính xây dựng (chứ không phải chửi bới, đạp đổ, phủ nhận sạch trơn).
Không phê phán bản thân, không tự phê phán không tiến lên được. Đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan và tán dương thành tựu một chiều, sẽ tụt hậu. Cần khắc phục tư duy (truyền thống) loại này. Đúng như ông Lê Doãn Hợp, chủ tịch Hội truyền thông số Việt Nam, mới vừa đưa ra một nhận định tinh tế, đầy trải nghiệm: "Xét về mặt tư duy chúng ta khác thế hệ trẻ và thế giới tiến bộ chỉ có 01 điều: Với thế hệ trẻ thành đạt của VN, cũng như các nước tiên tiến trên thế giới là ngay khi thành công họ luôn mổ xẻ xem có cách nào làm để thành công cao hơn nữa không? Còn tư duy của chúng ta thường là luôn kiếm tìm các nguyên nhân khách quan để bào chữa cho những điều chưa thành công của mình."[12] “Tư duy vừa đủ”, thỏa mãn, thích tán dương hơn là phê phán phản biện, ít mạo hiểm tìm cái mới, phát minh cụ thể… là một điểm yếu của tư duy VN truyền thống!
Cũng như vây, chúng ta biết cuộc đời có khổ có sướng, bất hạnh và hạnh phúc, nghĩa là qui luật tính hai mặt là phổ biến, nhưng tại sao đạo Phật chỉ nói “Đời là bể khổ”? “Cuộc đời là hạnh phúc” chăng? Hạnh phúc nào cũng phải vượt qua trở ngại và có khi cả khổ đau. Nên triết lý ấy của Phật giáo mới có chiều sâu, đỡ nhạt. Còn nếu nói Đời là “đẹp sao”, là sung sướng, là nhung lụa, là hạnh phúc thì nó nhẹ nhàng quá. Không vượt qua khổ đau làm sao có hạnh phúc. Đó là chiều sâu và biện chứng của triết lý Phật giáo hoặc nhìn rộng ra là triết lý mâu thuẫnn của PBC duy vật.
VHNT có chức năng chính là giáo dục thông qua hình thái ý thức thẩm mỹ, mà giáo chục chủ yếu là thức tỉnh, là khai sáng. Và chính VHNT “hiện thực phê phán”, nhưng là “hiện thực phê phán” để xây dựng (phê phán để đổi mới) chứ không phải đơn thuần phủ nhận, đập đổ, thì mới có ý nghĩa sâu sắc nhất cho thức tỉnh, cho giáo dục. Hầu như các tác phẩm VHNT lớn, lâu bền, vĩ đại đều như thế.
Qui luật tính hai mặt vẫn là phổ biến trong sáng tác VHNT. Cho nên không đơn thuần bôi đen nhưng cũng không tô hồng hiện thực. TỰ PHÊ PHÁN cần phải đẩy mạnh hơn nữa trong VHNT cả ở TPHCM. Khi phê phán thường dễ bị qui chụp... Nhưng thời “Nhân văn giai phẩm” qua lâu rồi, xã hội đã dân chủ hơn, thoáng hơn, tuy “bóng ma”, ám ảnh của nó thỉnh thoảng vẫn lẫn khuất đâu đây gây nhiều phiến toái cho việc sáng tác và xuất bản tác phẩm VHNT[13].
IV- VẤN ĐỀ LÀ QUAN NIỆM, THỂ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH
1- Khuyền khích các động lực qua tác phẩm. Tôi nghĩ rằng chủ yếu không nên, hay không quá chú trọng thực hiện chế độ khuyến khích, tôn vinh theo cấp bậc danh vị, thâm niên (vì nó tạo nên các cuộc chạy đua hình thức) mà quan trọng nhất là khuyền khích, tôn vinh bằng sản phẩm, qua sản phẩm, do họ làm ra bằng phẩm chất và tài năng của họ (như các cuộc thi vậy). Vì vấn đề là anh làm ra cái gì, cống hiến bằng sản phẩm làm ra chứ không phải chủ yếu bằng danh vị, cấp bậc, thâm niên. Điều này vừa thiết thực, thực chất vừa công bằng vừa tạo động lực sản phẩm chất lượng cao. Sản phẩm là thể hiện rõ nhất, trung thực nhất năng lực, tài năng, phẩm hạnh, đạo đức nghề nghiệp của người lao động mà.
2- Khuyến khích thích đáng tài năng bằng các hình thức thi cử và khen thưởng, giải thưởng xứng đáng. Cần chú ý thêm một cách thỏa đáng hơn chính lĩnh vực văn hóa, khoa học xã hội chứ không chỉ lõn vực kinh tế, doanh nhân.
Từ lôgích phân tích nói trên, chúng tôi đề nghị phải thật sự tôn vinh tác giả tài năng, có tác phẩm xuất sắc thật sự (với các cấp độ khác nhau), qua việc thi thố và công khai sản phẩm của họ, trườc dư luận với sự thẩm định của hội đồng chuyên môn, như một số lĩnh vực chúng ta đã làm, đang làm hàng năm hay theo định kỳ, và khen thưởng cần xứng đáng hơn nữa. Tôi cũng đồng ý khuyến, khích mạnh tác phẩm sáng tác, quảng bá liên quan tới giá trị văn hóa, bản sắc, đặc sắc dân tộc, vùng miền; nhưng cũng đồng thời khuyền khích tác phẩm cách tân, quảng bá giá trị mới của thời đại cả nội dung và hình thức (thi pháp).
3-  Để có tài năng và sản phẩm tốt, có nhiều việc phải làm, phải tạo điều kiện nhưng quan trọng bậc nhất là phải có môi trường thật sự tự do sáng tạo, cả trong sáng tác và quảng bá tác phẩm nhất là khâu thực thi. Có như thế thì văn nghệ sĩ mới mới thoải mái sáng tác và thi thố tài năng của mình. Vấn đề còn lại là năng lực từng người[14]. Tất nhiên, mở rộng dân chủ, đó là một quá trình nhưng không nên kéo dài kiểu “kiểm duyệt” vô lý hay tạo tâm lý cho các nhà biên tập sợ cấp trên này nọ[15]. Rồi nhà sáng tác cũng chập chờn… Có quá nhiều dẫn chứng về vấn đề này. Có vấn đề báo chí vẫn nói, phim chuyện cũng thể hiện và ngay cả diễn đàn Quộc hội cũng thẳng thắn đề cập nhưng khi sử dụng nó vào thơ, vào chuyện lại cho là “nhạy cảm” rồi bị gạt ra là sao? Vấn đề còn ở trình độ và bản lĩnh chính trị của người biên tập, hay giám đốc nhà xuất bản nữa. Và có khi nhà xuất này thì sợ, còn nhà xuất bản khác thì đồng ý cho in. Thời dân chủ pháp quyền nhưng hình như chưa thấm sâu sâu và ý thức và hành động của chúng ta, nhất là giới làm công tác có liên quan về vấn đề nói trên!
          4- Chúng ta đã bắt đầu mở rộng dân chủ nhưng cần mở rộng hơn nữa. Từ đó, Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp chủ yếu là kiến tạo (tạo điều kiện, môi trường thể chế…) cho sự phát triển VHNT chứ không quá nhấn mạnh chỉ đạo, quản lý kiểu định hướng cứng, vô lý (có khi nhân danh “chống diễn biến hòa bình”, hù dọa này nọ) như vẫn thường xảy ra lúc này lúc khác nơi này nơi khác (nhất là khâu xuất bản[16]). Đúng là, chúng ta đã bắt đầu mở rộng dân chủ, tập trung dựa chắc vào dân chủ nhưng cần mở rộng hơn nữa.
          Cũng cần ghi nhận rằng, ở những phương diện này TPHCM đã thoáng hơn, linh hoạt hơn và phần thưởng cũng có sức nặng hơn


[1] Nguyên hàm Vụ trưởng - Giám đốc chi nhánh Nxb Chính trị quốc gia tại Cần Thơ
[2] KTTT là kinh tế thị trường
[3]  Tác giả, Hồ Bá Thâm, nhất là cuốn” Văn hóa và bản sác văn hóa dân tộc” (Nxb Văn hóa - Thông tin , 2012), 430 trang; và cuốn Văn hóa và phát triển bền vững (Nxb Văn hóa -Thông tin , 2012), 350 trang); Văn hóa đương đại ở Nam Bộ, (Nxb Văn hóa - Thông tin , 2013, 400  trang.

[4] Khái niệm này thường gọi là “bản sắc văn hóa dân tộc” (BSVHDT)
[5] Có thể nói tinh thần yêu nước ở VN là có mặt ưu trội hơn một số dân tộc khác. Nói như G. Bernard Shaw (1856-1950): “Lòng yêu nước là niềm tin của anh về cái đất nước này có những mặt vượt lên trên so với tất cả các nước khác, chỉ bởi vì anh sinh ra trên đó” (Le patriotisme est votre conviction que ce pays est supérieur à tous les autres, parce que vous y êtes né(http://bolapquechoa.blogspot.com/2014/05/chung-ta-o-vao-chang-ang-ung.html#more).. Thế nhưng, có người lại sợ “nhấn mạnh đến "những nét ưu trội hơn một số dân tộc khác" dễ dẫn đến sự hiểu lầm về sự cao thấp trong bản sắc văn hóa dân tộc là mầm mống của chủ nghĩa sô vanh và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã từng xuất hiện một vài lần trong lịch sử” (xem Tạp chí VHNT số 357, tháng 3-2014, Tác giả: Phạm Ngọc Trung http://vhnt.org.vn/Newsdetails.aspx?NewID=1826). Thực ra họ không hiểu và quá cảnh giác chính trị mọt cách thô thiển mà thôi.
[6] Xem thêm: Hồ Bá Thâm, Văn hóa và bản sác văn hóa dân tộc (Nxb Văn hóa -Thông tin , 2012), trang 31-34
[7] Gần đây đài VTV1 cũng đã có buổi tọa đàm, taro đổi về văn hóa trẻ - như là văn hóa mới, vă hóa của lớp trẻ. Văn hóa truyền thống như là văn hóo già. Văn hóa là một quá tình trẻ hóa.
[8] Hồ Chí Minh: “…Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng nghìn năm” (Hồ Chí Minh, toàn tập,  tập 8, Nxb CTQG, năm 2000, trang 483- 494)
[9] Chúng tôi đưa ra khái niệm “giàu bản sắc”, năm 2006, khi thực hiện một đề tài về văn hóa
[10] Xem Hồ Bá Thâm, Văn hóa đương đại ở Nam Bộ, (Nxb Văn hóa - Thông tin  2013.
[11] Xem thêm Phạm Văn Hùng, Nghiên cưu so sánh các vụ án văn chương ở VN và TQ thời trung đại, Văn hóa Nghệ An, số  170- 171- 172, năm 2014
[13] Chẳng hạn, mấy năm gần đây, vẫn còn việc phê phán có tính trù dập tác giả vô lý, như với tác giả cuốn “Cánh đồng bất tận”, hoặc bài thơ “Cây cổ thụ trong sân ủy ban”. Nhưng may mà có dư luận phản hồi tích cực nên không gây hậu quả lớn. Và cuốn “Cánh đồng bất tận” lại trở nên nổi tiếng, được giải thưởng lớn!
[14] Tác giả Cao Minh, cho rằng nhà văn Sương Nguyệt Minh đã đề cập vấn đề này với bài viết: “8 lý do chưa có tác phẩm văn chương đỉnh cao”. Đó là: 1- Hiện nay chưa xuất hiện thiên tài văn chương. 2- Thiếu vắng nhà văn có tư tưởng lớn. 3- Chưa đam mê quyết liệt, không dấn thân tận cùng. 4- Nhà văn Việt Nam đang bị tán tài. 5- Nhà văn thiếu sự liên tài. 6- Nhà văn thiếu những bi kịch lớn. 7- Nhà văn bị biên tập dữ dội, rồi cuối cùng nhà văn sợ hãi tự biên tập mình. 8- Một nền phê bình yếu và thiếu cũng không kích thích sáng tạo văn chương (Tạp chí Lý luận Phê bình số 17 (tháng 1- 2014).  8 điều nhà văn Sương Nguyệt Minh nêu ra đều đúng. Tuy nhiên, vẫn chưa đầy đủ và thiếu một điều căn bản. Theo Cao Minh thì cần có nhân cách lớn, vì tài năng văn chương là trời phú, nhưng không lao động nghiêm túc thì cái tài ấy cũng mai một. Có tài năng văn chương, có tư tưởng lớn, có nhân cách lớn, chắc chắn những giá trị văn chương lớn sẽ được sáng tạo (http://trannhuong.com/tin-tuc-17678/van-chuong-va-dinh-cao.vhtm).
[15] Biên tập, sữa chữa là cần để chính xác hóa vấn đề và để nâng cao chất lượng bản thảo. Nhưng nếu cứ theo kiểu nói sao cho dễ nghe, ai cũng thây vừa lòng (trung dung), gọt hết gai (hoa hồng) cho nó tròn, cho nó vuông, cho nó an toàn… thì khó có góc cạnh của tác phẩm.
[16] Có khi xử tội kỷ luật phát ngôn còn nặng hơn nhiều so với tội tham nhũng
====================
. 8- Một nền phê bình yếu thiếu cũng không kích thích sáng tạo văn chương (Tạp chí Lý luận Phê bình số 17 (tháng 1- 2014).  8 điều nhà văn Sương Nguyệt Minh nêu ra đều đúng. Tuy nhiên, vẫn chưa đầy đủ và thiếu một điều căn bản. Theo Cao Minh thì cần có nhân cách lớn, vì tài năng văn chương là trời phú, nhưng không lao động nghiêm túc thì cái tài ấy cũng mai một. Có tài năng văn chương, có tư tưởng lớn, có nhân cách lớn, chắc chắn những giá trị văn chương lớn sẽ được sáng tạo (http://trannhuong.com/tin-tuc-17678/van-chuong-va-dinh-cao.vhtm).
[1] Biên tập, sữa chữa là cần để chính xác hóa vấn đề và để nâng cao chất lượng bản thảo. Nhưng nếu cứ theo kiểu nói sao cho dễ nghe, ai cũng thây vừa lòng (trung dung), gọt hết gai (hoa hồng) cho nó tròn, cho nó vuông, cho nó an toàn… thì khó có góc cạnh của tác phẩm.
[1] Có khi xử tội kỷ luật phát ngôn còn nặng hơn nhiều so với tội tham nhũng


Thông tin từ ISSTH

Thông tin tổng hợp

Kho số liệu của ISSTH

Diễn đàn trí thức

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Đào tạo

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn