31-03-2015

Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2015


Kinh tế - xã hội nước ta 3 tháng đầu năm 2015 diễn ra trong bối cảnh trong và ngoài nước có những yếu tố thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Hầu hết các nền kinh tế mới nổi hy vọng sẽ đạt mức tăng trưởng khả quan hơn nhờ giá dầu giảm, thanh khoản toàn cầu tăng. Sự phục hồi của kinh tế Mỹ được kỳ vọng sẽ là đầu tầu cho các nền kinh tế phát triển, làm tăng nhu cầu đối với những mặt hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, giúp khu vực này duy trì tốc độ tăng trưởng. Khu vực đồng Euro tuy không còn áp lực mạnh của cuộc khủng hoảng nợ công nhưng rủi ro suy thoái vẫn là điều quan ngại. 


Ở trong nước, sản xuất kinh doanh nhìn chung thuận lợi do giá dầu giảm mạnh nên không chịu nhiều sức ép về chi phí đầu vào. Tuy nhiên, giá cả trên thị trường thế giới biến động mạnh, nhất là giá dầu gây áp lực lớn đến cân đối ngân sách Nhà nước. Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các địa phương thực hiện tốt và đồng bộ Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 01 năm 2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2 năm 2015-2016. Nhờ sự nỗ  lực trong cải  cách  thủ  tục  hành  chính,  cải  cách  thể  chế  và  tái cơ cấu kinh tế, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo, tranh thủ và tận dụng mọi cơ hội nên hoạt động sản xuất kinh doanh quý I năm nay của hầu hết các ngành, lĩnh vực đạt kết quả khả quan.  

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2015 ước tính tăng 6,03% so với cùng kỳ năm 2014, đây là mức tăng cao nhất của quý I trong 5 năm qua[1]. Trong mức tăng 6,03% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,14%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,35%, đóng góp 2,82 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,82%, đóng góp 2,36 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,47%, đóng góp 0,57 điểm phần trăm.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp mặc dù có mức tăng cao nhất với 6,02%, nhưng chỉ đóng góp 0,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung do chiếm tỷ trọng thấp nhất trong khu vực; ngành nông nghiệp tuy chỉ tăng thấp ở mức 1,54% nhưng do chiếm tỷ trọng lớn nhất (Khoảng 71%) nên đóng góp 0,15 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,38%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều mức tăng cùng kỳ của một số năm trước[2], trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng khá cao với 9,51%[3], góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung; ngành khai khoáng tăng 6,70%. Ngành xây dựng tăng 4,40%, thấp hơn mức tăng 5,93% của cùng kỳ năm 2014. 

Trong khu vực dịch vụ, mức tăng của một số ngành có tỷ trọng lớn như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,11% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,90%. Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,65%. Hoạt động kinh doanh bất động sản có cải thiện hơn, đạt mức tăng 2,55%, cao hơn mức tăng 2,38% của cùng kỳ năm trước với những tín hiệu khả quan: Thị trường bất động sản bước đầu ấm lên, tỷ lệ giao dịch bất động sản thành công tăng, lãi suất ngân hàng tiếp tục giảm, các điều kiện cho vay mua nhà được nới lỏng.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,35%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,80%; khu vực dịch vụ chiếm 42,23%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,62%.

Xét về góc độ sử dụng GDP quý I năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,67% so với cùng kỳ năm 2014, đóng góp 8,48 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 6,70%, đóng góp 1,60 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 4,05 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm nay theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 171 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 131 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8%; lâm nghiệp đạt 6 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3%; thủy sản đạt 34 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6%.

Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/3, cả nước đã gieo cấy được 3057 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1111,8  nghìn ha, bằng 99,9%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1945,2 nghìn ha, bằng 99,8%, riêng đồng bằng sông Cửu Long đạt 1562,3 nghìn ha, xấp xỉ cùng kỳ năm 2014. Hiện nay các địa phương phía Bắc đã cơ bản cấy xong, lúa đang sinh trưởng và phát triển tốt. Tại phía Nam, một số địa phương chuyển đổi một phần diện tích lúa sang trồng cây khác cho giá trị kinh tế cao hơn nên diện tích gieo trồng giảm: Đồng Tháp giảm 2,6 nghìn ha; Tiền Giang giảm 2,3 nghìn ha; Long An giảm 1,6 nghìn ha. Cũng do thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ nên một số địa phương có diện tích lúa đông xuân tăng: Hậu Giang tăng 2,5 nghìn ha; Trà Vinh tăng 2,4 nghìn ha; Kiên Giang tăng 1,5 nghìn ha.

Tính đến trung tuần tháng Ba, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 870,7 nghìn ha lúa đông xuân, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 848,7 nghìn ha, chiếm 45% diện tích xuống giống và tăng 20,9% (Long An 93 nghìn ha, tăng 33%; Đồng Tháp 136,3 nghìn ha, tăng 52%; An Giang 58,6 nghìn ha, tăng 45%; Hậu Giang 44,4 nghìn ha, tăng 66%). Ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 71 tạ/ha, giảm  0,7 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước, sản lượng đạt 11 triệu tấn, giảm 100 nghìn tấn. Một số tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ đang trong tình trạng nắng nóng kéo dài, thiếu nguồn nước tưới gây ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch. 

Các địa phương đang tích cực đẩy nhanh tiến độ gieo trồng các loại rau, màu. Tính đến giữa tháng Ba, cả nước đã gieo trồng được 356,5 nghìn ha ngô, bằng 101,9% cùng kỳ năm trước; 73,8 nghìn ha khoai lang, bằng 93,5%; 127,3 nghìn ha lạc, bằng 100,5%; 44,2 nghìn ha đỗ tương, bằng 81,6%; 499 nghìn ha rau đậu, bằng 102,6%. 

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong 3 tháng đầu năm chủ yếu tập trung đầu tư bảo đảm tiêu dùng trong dịp tết Nguyên Đán 2015. Theo báo cáo sơ bộ, ước tính đàn bò 3 tháng tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn tăng 2%; đàn gia cầm tăng 3% - 3,5 %; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng tăng 1% - 1,5%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 2% - 2,5%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 4% - 4,5%; sản lượng thịt gia cầm tăng 5,5% - 6%. 

Tính đến ngày 24/3/2015, dịch lợn tai xanh đã được khống chế; dịch bệnh khác chưa qua 21 ngày còn ở các địa phương: Dịch lở mồm long móng ở Lào Cai; dịch cúm gia cầm ở Vĩnh Long và Thanh Hóa.

Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp những tháng đầu năm có nhiều thuận lợi về thời tiết và thị trường tiêu thụ lâm sản. Tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng ước tính đạt 12,8 nghìn ha, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có diện tích rừng trồng nhiều: Nghệ An 4493 ha; Yên Bái 2203 ha; Quảng Ngãi 2147 ha; Quảng Nam 2100 ha. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 64,8 triệu cây, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2014; sản lượng gỗ khai thác đạt 1502 nghìn m3, tăng 8,1%. Một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác lớn và tăng khá: Quảng Ngãi 164,2 nghìn m3, tăng 33,6%; Bình Định 103,5 nghìn m3, tăng 11,9%; Nghệ An 57,5 nghìn m3, tăng 10%. Sản lượng củi khai thác đạt 7,6 triệu ste, tăng 0,3%.

Thời tiết đang vào mùa khô hạn nên nhiều vùng có nguy cơ cao xảy ra cháy rừng. Theo thông tin cảnh báo cháy rừng từ cơ quan chức năng, trên địa bàn cả nước có 21 tỉnh có khu vực nguy cơ cháy rừng cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm[4] và 9 tỉnh có nguy cơ cháy rừng cấp IV - cấp nguy hiểm[5]. Tuy nhiên, nhờ công tác phòng, chống cháy rừng được thực hiện tốt tại các địa phương nên tính đến trung tuần tháng Ba, diện tích rừng bị thiệt hại trên địa bàn cả nước ước tính 159 ha, giảm 73,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó diện tích rừng bị cháy là 74 ha, giảm 85,5%; diện tích rừng bị phá là 85 ha, giảm 7,3%.

Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1223,1 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 893,7 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 124,5 nghìn tấn, tăng 5,3%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 3 tháng ước tính đạt 511,6 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó cá đạt 352,7 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 92,8 nghìn tấn, tăng 6,1%. Nuôi trồng cá tra có sự chuyển dịch khá rõ nét từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất lớn tập trung, đảm bảo chuỗi khép kín từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, nhằm đáp ứng các điều kiện khắt khe của thị trường nhập khẩu. Sản lượng cá tra tại các địa phương với chủ yếu là các hộ nuôi nhỏ, phân tán giảm mạnh: Trà Vinh giảm 64%; Vĩnh Long giảm 36%; Tiền Giang giảm 34%. Trong khi đó, những địa phương có quy hoạch vùng nuôi lớn với mô hình doanh nghiệp liên kết chặt chẽ với người dân từ khâu sản xuất tới khâu tiêu thụ đều tăng: Bến Tre tăng 11,1%; Cần Thơ tăng 5,1%; An Giang tăng 2,1%... 

Nuôi tôm tại các địa phương tiếp tục phát triển khá và có sự chuyển dịch nhẹ từ nuôi tôm sú sang tôm thẻ chân trắng. Diện tích tôm thẻ chân trắng trong kỳ tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2014; sản lượng tăng 8,5%. Một số địa phương có sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng cao: Thành phố Hồ Chí Minh đạt 3 nghìn tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2014; Bạc Liêu 2 nghìn tấn, tăng 37%; Trà Vinh 1,5 nghìn tấn, tăng 50%. Tuy nhiên, thời gian gần đây tôm sú được giá nên người dân một số địa phương có xu hướng thả nuôi trở lại. Diện tích tôm sú trong kỳ tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2014; sản lượng tăng 6,3%. Một số tỉnh có sản lượng tôm sú tăng cao: Cà Mau đạt 29,9 nghìn tấn, tăng 7%; Bạc Liêu đạt 7 nghìn tấn, tăng 11%.

Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng đầu năm ước tính đạt 711,5 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 541 nghìn tấn, tăng 3,2%; tôm đạt 31,7 nghìn tấn, tăng 3,3%. Khai thác thủy sản biển 3 tháng đạt 673,4 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2014. Sản lượng thuỷ sản khai thác trong kỳ đạt khá chủ yếu do thời tiết tương đối thuận lợi cho việc ra khơi đánh bắt. Một số địa phương có sản lượng thủy sản khai thác biển đạt khá trong kỳ: Bà Rịa-Vùng Tàu 75,7 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước; Cà Mau 52 nghìn tấn, tăng 22%; Bến Tre 36 nghìn tấn, tăng 19%. Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương trong 3 tháng đạt 7 nghìn tấn, giảm 0,9 %, trong đó Quảng Ngãi đạt 1,7 nghìn tấn, giảm 17%; Bình Định 2,2 nghìn tấn, tăng 5,1%, Phú Yên 2,6 nghìn tấn, tăng 6%. 

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng Ba ước tính tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước (ngành khai khoáng tăng 7,5%; chế biến, chế tạo tăng 9,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 11%; cung cấp nước tăng 8,1%). Ước tính quí I năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,1%, cao hơn nhiều so với mức tăng 5,3% của cùng kỳ năm trước và mức tăng 4,9% của cùng kỳ năm 2013. Trong các ngành công nghiệp, ngành khai khoáng tăng 6,7%, đóng góp 1,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 9,6%, cao hơn nhiều mức tăng 7,4% của cùng kỳ năm trước và đóng góp 6,8 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 12,1%, cùng kỳ năm trước tăng 9,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,8%, cùng kỳ năm 2014 tăng 6,1%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, trong quý I năm nay, chỉ số sản xuất của sản phẩm trung gian dùng cho quá trình sản xuất tiếp theo tăng 9% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm dùng cho tích lũy và tiêu dùng cuối cùng tăng 9,9%; sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 12,9% (công cụ sản xuất tăng cao ở mức 30,7%; nguyên vật liệu xây dựng tăng 9,3%); sản phẩm tiêu dùng của dân cư tăng 8,8%.


Trong các ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất quí I tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ tăng 42,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 22,6%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 20,4%; dệt tăng 14,7%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất và phân phối điện tăng 12,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,8%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 7,7%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,1%; sản xuất đồ uống tăng 4,9%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 4,7%; khai thác than tăng 3,2%; sản xuất trang phục tăng 1,4%; sản xuất thuốc lá giảm 0,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 0,6%.

Xét theo sản phẩm công nghiệp, một số sản phẩm có chỉ số sản xuất quí I tăng cao so với cùng kỳ năm 2014: Điện thoại di động tăng 105%; ô tô tăng 52,6%; ti vi tăng 38,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 27,4%; sơn hóa học tăng 17,2%; giày, dép da tăng 16,3%; sữa tươi tăng 16,2%; thức ăn cho gia súc tăng 16%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện sản xuất tăng 12,7%; thép cán tăng 12,4%; dầu mỏ thô khai thác tăng 9,8%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Thuỷ hải sản chế biến tăng 8,6%; sắt thép thô tăng 7,8%; xi măng tăng 5,9%; than đá tăng 3,2%; khí đốt thiên nhiên tăng 0,2%; đường kính giảm 0,1%; quần áo giảm 0,3%; thuốc lá giảm 0,6%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 4,5%; khí hóa lỏng giảm 6,5%; xe máy giảm 11,8%. 

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp quí I so với cùng kỳ năm 2014 của một số địa phương như sau: Thái Nguyên tiếp tục tăng cao ở mức 568,1%; Hải Phòng tăng 15,1%; Quảng Nam tăng 13,4%; Cần Thơ tăng 13,4%; Đồng Nai tăng 8,3%; Đà Nẵng tăng 8,2%; Hà Nội tăng 7,7%; Hải Dương tăng 6,1%; Bình Dương tăng 5,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,5%; Vĩnh Phúc tăng 5,4%; Quảng Ninh tăng 4,2%; Bà Rịa Vũng Tàu giảm 4,4%; Quảng Ngãi giảm 9,2%; Bắc Ninh giảm 30,5%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2015 giảm 26,2% so với tháng trước và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 2 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2014: Sản xuất xe có động cơ tăng 49,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 44,4%; sản xuất kim loại tăng 33,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 26%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,1%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 12,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 8,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 7,2%; sản xuất trang phục tăng 4,6%; dệt tăng 1,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hóa chất tăng 0,9%; sản xuất đồ uống giảm 0,1%; sản xuất thuốc lá giảm 9,7%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 10,7%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/3/2015 tăng 10,9% so với cùng thời điểm năm 2014, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất xe có động cơ tăng 9,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,6%; sản xuất thiết bị điện giảm 15,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 38%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 119,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 93,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 38,3%; sản xuất đồ uống tăng 35,9%; sản xuất trang phục tăng 29,1%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 22,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 21,8%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,5%; dệt tăng 19%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2015 tăng 5,4% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,2% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8,2%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 4,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 6,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,8%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,9%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2015 so với cùng thời điểm năm trước của các tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 138,1% (chủ yếu tăng trong ngành sản xuất điện thoại thông minh); Hải Dương tăng 14,2%; Bà Rịa- Vũng Tàu tăng 13,1%; Bắc Ninh tăng 11,7%; Đà Nẵng tăng 5,2%; Bình Dương tăng 3,5%; Quảng Nam tăng 1,8%; Vĩnh Phúc tăng 1,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,5%; Hải Phòng tăng 1,2%; Đồng Nai tăng 1%; Cần Thơ tăng 0,9%; Quảng Ngãi tăng 0,6%; Hà Nội tăng 0,4%; Quảng Ninh tăng 0,1%.

Hoạt động của doanh nghiệp 

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[6]

Trong tháng 3/2015, cả nước có 5283 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 33,7 nghìn tỷ đồng, giảm 23,4% về số doanh nghiệp và giảm 26,5% về số vốn đăng ký so với tháng trước. Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp trong tháng đạt 6,4 tỷ đồng, giảm 3% so với tháng Hai. Số lao động của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 68 nghìn người, giảm 24,7%. Tình hình đăng ký doanh nghiệp mới trong tháng giảm so với tháng trước chủ yếu do tháng Ba là tháng sau Tết Nguyên đán nên nhu cầu kinh doanh, sản xuất mới chưa cao.

Trong tháng, cả nước có 3590 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 138,7% so với tháng trước; 2316 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, giảm 47,2%; 510 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, giảm 51,9%.

Trong quý I năm nay, cả nước có 19049 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 111,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% về số doanh nghiệp và tăng 13,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, có 4741 lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 172,9 nghìn tỷ đồng. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 5,8 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2014. Số lao động được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I là 265 nghìn lao động, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh trong 3 tháng đầu năm của cả nước là 2565 doanh nghiệp, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ với vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng. Nếu phân theo loại hình, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh có 940 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 36,6%); 693 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 27,0%); 546 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 21,3%) và 386 công ty cổ phần (chiếm 15,1%).

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động của cả nước là 16175 doanh nghiệp, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 5548 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 10627 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Trong tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động có 94,2% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng; có 5684 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 35,1%), 5489 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 33,9%), 2441 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 15,2%) và 2561 công ty cổ phần (chiếm 15,8%).

Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong quý I năm nay là 5094 doanh nghiệp, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây là con số đáng khích lệ cho thấy tín hiệu tốt của nền kinh tế, tạo thêm cơ hội đầu tư, kinh doanh cho những doanh nghiệp đang gặp khó khăn.

Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh từ 3245 doanh nghiệp cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong những tháng đầu năm như sau: 

Về đơn đặt hàng sản xuất quý I năm nay so với quý trước, có 27,7% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng cao hơn; 32% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 40,4% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quí II so với quí I khả quan hơn với 52,1% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 11,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 36,2% số doanh nghiệp có đơn hàng ổn định. 

Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý I năm nay so với quý trước, có 25% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất cao hơn; 24,6% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 50,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quí II so với quí I, có 42,9% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 14% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 43,1% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất quý I năm nay so với quý trước, có 33,5% số doanh nghiệp cho rằng chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tăng; 10,7% số doanh nghiệp khẳng định chi phí giảm và 55,8% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 28,6% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng; 13% số doanh nghiệp cho rằng chi phí sản xuất giảm và 58,4% số doanh nghiệp dự báo ổn định. 

Về giá bán sản phẩm quý I năm nay so với quý trước, có 19,3% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm tăng; 15,3% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 65,5% số doanh nghiệp giữ giá ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 21% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 8,8% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 70,2% số doanh nghiệp sẽ ổn định giá bán sản phẩm.

Về tồn kho sản phẩm quý I năm nay so với quý trước, có 25,6% số doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho tăng; 29,9% số doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho giảm và 44,5% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý II so với quý I, có 17,4% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 35% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho giảm và 47,6% số doanh nghiệp sẽ giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu quý I năm nay so với quý trước, có 22,6% số doanh nghiệp trả lời lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,2% số doanh nghiệp cho là giảm và 49,2% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Xu hướng quý II so với quý I, có 18,2% số doanh nghiệp đánh giá lượng tồn kho nguyên vật liệu sẽ tăng; 31,9% dự báo lượng tồn kho sẽ giảm và 49,9% số doanh nghiệp cho rằng lượng tồn kho nguyên vật liệu sẽ không có sự biến động. 

Hoạt động dịch vụ

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Ba ước tính đạt 253,5 nghìn tỷ đồng, giảm 6,4% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 28,4 nghìn tỷ đồng, giảm 2,3% và tăng 1,8%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 216,6 nghìn tỷ đồng, giảm 7,2% và tăng 10,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,5 nghìn tỷ đồng, giảm 0,3% và tăng 11,3%.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng đạt 195,9 nghìn tỷ đồng, giảm 5,1% so với tháng trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Do tháng Ba là tháng sau Tết nên doanh thu một số ngành hàng giảm so với tháng trước: Lương thực, thực phẩm giảm 8,4%; đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 5,7%; phương tiện đi lại giảm 5,1%; vật phẩm văn hoá giáo dục giảm 3,3%; riêng nhóm hàng may mặc giảm nhiều ở mức 10,5%, trong đó Quảng trị giảm 25,4%; Thanh hoá giảm 24,8%; Quảng Bình giảm 23,9%; Phú Thọ giảm 16,5%; Lai Châu giảm 12,8%; Nghệ An giảm 12,4%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Ba đạt 26,3 nghìn tỷ đồng, giảm 17,3% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm mạnh so với tháng trước: Điện Biên giảm 44,1%; Gia Lai giảm 18,1%; Hậu Giang giảm 17,4%; Bình Định giảm 12,2%; Long An giảm 12%.

Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng đạt 2 nghìn tỷ đồng, giảm 7,9% so với tháng trước và giảm 29,4% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có doanh thu tăng so với tháng trước: Thừa Thiên Huế tăng 17%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,5%; Hà Nội tăng 0,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 0,6%. Một số tỉnh có doanh thu giảm mạnh: Điện Biên giảm 43,4%; Kiên Giang giảm 28,2%; Bắc Kạn giảm 25,9%; Long An giảm 12%; Vĩnh Long giảm 11,9%.

Tính chung 3 tháng đầu năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 790,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, loại trừ yếu tố giá tăng 9,2% (cao hơn mức tăng 5,1% của cùng kỳ năm 2014). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 3 tháng của khu vực kinh tế Nhà nước đạt 86,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,9% tổng số và tăng 1,6%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 678,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 85,8%, tăng 11,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 25,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,3%, tăng 11%. Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I, bán lẻ hàng hóa đạt 604,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,4% tổng số và tăng 10% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 89,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4%, tăng 8,8%; dịch vụ khác đạt 90,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4% và tăng 13,3%; du lịch lữ hành đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8%, giảm 12,8%.

Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách 3 tháng đầu năm ước tính đạt 800,7 triệu lượt khách, tăng 6,7% và 35,6 tỷ lượt khách.km, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2014, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 8,1 triệu lượt khách, giảm 0,8% và 8,6 tỷ lượt khách.km, tăng 0,2%; vận tải địa phương đạt 792,6 triệu lượt khách, tăng 6,8% và 27 tỷ lượt khách.km, tăng 6,6%. Vận tải hành khách đường bộ 3 tháng ước tính đạt 755,4 triệu lượt khách, tăng 7% và 26,6 tỷ lượt khách.km, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 4,8 triệu lượt khách, tăng 2,2% và 7,4 tỷ lượt khách.km, giảm 0,3%; đường sắt đạt 2,5 triệu lượt khách, giảm 8,3% và 0,9 tỷ lượt khách.km, tăng 1,9%; đường biển đạt 1,4 triệu lượt khách, tăng 2,1% và 63 triệu lượt khách.km, tăng 1,8%. 

Vận tải hàng hóa 3 tháng đầu năm ước tính đạt 261,6 triệu tấn, tăng 4,8% và 52,9 tỷ tấn.km, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 255,4 triệu tấn, tăng 4,9% và 23,2 tỷ tấn.km, tăng 6,1%; vận tải ngoài nước đạt 6,2 triệu tấn, giảm 2,4% và 29,7 tỷ tấn.km, giảm 1%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 202,5 triệu tấn, tăng 5,4% và 10,6 tỷ tấn.km, tăng 6,2%; đường sông đạt 44,4 triệu tấn, tăng 4,6% và 8,8 tỷ tấn.km, tăng 5,2%; đường biển đạt 13,2 triệu tấn, giảm 3% và 32,4 tỷ tấn.km, giảm 0,5%; đường sắt đạt 1,4 triệu tấn, giảm 0,3% và 0,9 tỷ tấn.km, tăng 16,9%.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Trong 3 tháng đầu năm nay, số khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 2 triệu lượt người, giảm 13,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 1700,5 nghìn lượt người, giảm 8%; khách đến bằng đường bộ đạt 289,3 nghìn lượt người, giảm 35,8%; khách đến bằng đường biển đạt 18,1 nghìn lượt người, giảm 36,7%.

Khách đến nước ta từ châu Á trong 3 tháng đạt 1271,7 nghìn lượt người, giảm 14,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số quốc gia và vùng lãnh thổ có khách đến nước ta giảm nhiều: Trung Quốc 350 nghìn lượt người, giảm 40,4%; Đài Loan 106,5 nghìn lượt người, giảm 2,7%; Cam-pu-chia 84,3 nghìn lượt người, giảm 15%; Ma-lai-xi-a 79,5 nghìn lượt người, giảm 1,6%; Thái Lan 50,7 nghìn lượt người, giảm 22,8%; Lào 25 nghìn lượt người, giảm 20,9%. Một số quốc gia có khách đến nước ta tăng: Hàn Quốc 313,4 nghìn lượt người, tăng 31,4%; Nhật Bản 172,1 nghìn lượt người, tăng 0,8%; Xin-ga-po 51,9 nghìn lượt người, tăng 7,1%.

Khách đến nước ta từ châu Âu ước tính đạt 341,8 nghìn lượt người, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số quốc gia có lượng khách đến giảm: Nga 95,8 nghìn lượt người, giảm 27,1%; Pháp 60,9 nghìn lượt người, giảm 7%; Anh 55,7 nghìn lượt người, giảm 4,4%; Thụy Điển 13,2 nghìn lượt người, giảm 6,6%. Một số quốc gia có lượng khách đến nước ta tăng: Đức 46,1 nghìn lượt người, tăng 0,2%; I-ta-li-a 11,7 nghìn lượt người, tăng 6%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 180,6 nghìn lượt người, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 144,1 nghìn lượt người, tăng 2,9%. Khách đến nước ta từ châu Úc đạt 93,5 nghìn lượt người, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 85,7 nghìn lượt người, giảm 10,1%. 

ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

Tiền tệ, tín dụng

Tổng phương tiện thanh toán đến thời điểm 20/3/2015 tăng 2,09% so với tháng 12/2014 (cùng kỳ năm trước tăng 3,56%). Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng đến thời điểm 20/3/2015 tăng 0,94% so với thời điểm cuối năm 2014 (cùng kỳ năm trước tăng 2,7%). Tín dụng đối với nền kinh tế tại thời điểm trên tăng 1,25% so với tháng 12/2014 (cùng kỳ năm trước giảm 0,57%). 

Xây dựng, đầu tư 

Xây dựng

Giá trị sản xuất xây dựng quý I theo giá hiện hành ước tính đạt 173,7 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 16,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,6%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 142,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 82%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 14,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,4%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 68,8 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 26,6 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 57 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 21,3 nghìn tỷ đồng.

Giá trị sản xuất xây dựng quý I theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 138,1 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2014, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 13,6 nghìn tỷ đồng, giảm 6,4%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 112,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,6 nghìn tỷ đồng, tăng 38,2%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 54,4 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 21,1 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 45,3 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 17,3 nghìn tỷ đồng.

Đầu tư trong nước

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm nay theo giá hiện hành ước tính đạt 245,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước và bằng 30,4% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 88,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,1% tổng vốn và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 89,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,4% và tăng 10,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 67,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,5% và tăng 10,7%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I ước tính đạt 35,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6% kế hoạch năm và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, gồm có: 

- Vốn trung ương quản lý đạt 6740 tỷ đồng, bằng 16,6% kế hoạch năm và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 1103 tỷ đồng, bằng 16% kế hoạch năm và tăng 3,3%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 530 tỷ đồng, bằng 18,5% và giảm 0,4%; Bộ Y tế 289 tỷ đồng, bằng 18,3% và tăng 94%; Bộ Xây dựng 242 tỷ đồng, bằng 15,6% và tăng 4,8%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 126 tỷ đồng, bằng 18,4% và tăng 0,8%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 126 tỷ đồng, bằng 14,8% và tăng 6,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 89 tỷ đồng, bằng 15,1% và tăng 4,7%; Bộ Công Thương 62 tỷ đồng, bằng 14,4% và tăng 8,8%; Bộ Khoa học và Công nghệ 54 tỷ đồng, bằng 18,1% và tăng 0,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 36 tỷ đồng, bằng 19,6% và giảm 2,7%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 28999 tỷ đồng, bằng 17,9% kế hoạch năm và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 20221 tỷ đồng, bằng 16,9% kế hoạch năm và tăng 4,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 7127 tỷ đồng, bằng 20,1% và tăng 2,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 1651 tỷ đồng, bằng 24,9% và giảm 6,3%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 3857 tỷ đồng, bằng 19,1% kế hoạch năm và giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 1841 tỷ đồng, bằng 9,5% và giảm 10%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1314 tỷ đồng, bằng 24,8% và tăng 31%; Nghệ An 1077 tỷ đồng, bằng 28,3% và tăng 1,4%; Thanh Hóa 826 tỷ đồng, bằng 24,4% và tăng 7,5%; Kiên Giang 767 tỷ đồng, bằng 23,1% và tăng 12,2%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2015 thu hút 267 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 1216,7 triệu USD, tăng 6% về số dự án và giảm 40,6% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Đồng thời có 102 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 621,1 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 1837,8 triệu USD, giảm 44,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I/2015 ước tính đạt 3050 triệu USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2014.

Trong quý I, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 1406,9 triệu USD, chiếm 76,6% tổng vốn cấp mới và vốn bổ sung; ngành kinh doanh bất động sản đạt 202,9 triệu USD, chiếm 11%; các ngành còn lại đạt 228 triệu USD, chiếm 12,4%.

Cả nước có 27 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 3 tháng đầu năm, trong đó thành phố Hồ Chí Minh có số vốn đăng ký lớn nhất với 460,9 triệu USD, chiếm 37,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bắc Giang 112 triệu USD, chiếm 9,2%; Hà Nam 103,5 triệu USD, chiếm 8,5%; Đồng Nai 84,7 triệu USD, chiếm 7%; Hưng Yên 82,6 triệu USD, chiếm 6,8%.

Trong số 32 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 3 tháng, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 314,2 triệu USD, chiếm 25,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Quần đảo Virgin thuộc Anh đạt 306,4 triệu USD, chiếm 25,2%; Nhật Bản đạt 137 triệu USD, chiếm 11,3%; Xin-ga-po đạt 114,8 triệu USD, chiếm 9,4%; Hoa Kỳ đạt 67,8 triệu USD, chiếm 5,6%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) đạt 45,2 triệu USD, chiếm 3,7%...

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Mặc dù giá dầu thô trên thị trường thế giới giảm mạnh nhưng thu ngân sách Nhà nước 3 tháng đầu năm vẫn bảo đảm tiến độ, phản ánh xu hướng phục hồi của nền kinh tế. Hầu hết các khoản thu trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh đều đạt khá. Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2015 ước tính bằng 19,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa bằng 21,4%; thu từ dầu thô bằng 15,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 16,8%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 20,6% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 21%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 22,9%; thuế thu nhập cá nhân bằng 22,7%; thuế bảo vệ môi trường bằng 20,4%; thu tiền sử dụng đất bằng 22,5%.

Chi ngân sách Nhà nước chủ yếu tập trung bảo đảm nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2015 ước tính bằng 18,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 18% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 18,2%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 19,3%; chi trả nợ và viện trợ bằng 21,1%.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 02/2015 đạt 9,5 tỷ USD, thấp hơn 87 triệu USD so với số ước tính, trong đó hàng dệt may thấp hơn 159 triệu USD; giày dép thấp hơn 113 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ thấp hơn 62 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện cao hơn 178 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 95 triệu USD. 


Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba năm nay ước tính đạt 12,7 tỷ USD, tăng 33,5% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 3,8 tỷ USD, tăng 36,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 8,9 tỷ USD, tăng 32,2%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng cao so với tháng trước: Gạo tăng 198,8%; dây diện và cáp điện tăng 85,8%; cao su tăng 72,8%; túi xách, ví, va li, mũ, ô dù tăng 69,9%; sản phẩm chất dẻo tăng 52,5%. 

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba năm nay tăng 4,2%, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 11,9%, khu vực kinh tế trong nước giảm 10,3%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tăng: Giày dép tăng 13%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 24,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 67,8%.

Tính chung quý I năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 35,7 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,6 tỷ USD, giảm 5,1% (Cùng kỳ năm trước tăng 5%); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 25,1 tỷ USD, tăng 12,9% và chiếm 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn tỷ trọng 66,7% của cùng kỳ năm 2014. Tính riêng 2 tháng đầu năm 2015, trong số 21 nhóm hàng (chiếm 68% tổng kim ngạch xuất khẩu), có 8 mặt hàng[7] tỷ trọng khu vực FDI chiếm trên 90% hoặc 100% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I đạt 37 tỷ USD, tăng 10,9%. 

Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch quý I tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 6,7 tỷ USD, tăng 21,9%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 3,6 tỷ USD, tăng 65,4%; giày dép đạt 2,5 tỷ USD, tăng 19,5%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác đạt 1,8 tỷ USD, tăng 16,7%; túi xách, vali, mũ, ô dù đạt 677 triệu USD, tăng 19,9%; Một số mặt hàng có kim ngạch giảm: Thủy sản đạt 1,3 tỷ USD, giảm 19,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,2 tỷ USD, giảm 29,5%; dầu thô đạt 1,1 tỷ USD, giảm 31,2%; cà phê đạt 744 triệu USD, giảm 36,4%; gạo đạt 454 triệu USD, giảm 29,9%; sắt thép đạt 409 triệu USD, giảm 17,2%.

Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu trong 3 tháng đầu năm, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 16,4 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 46% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 2,5 điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm 2014), trong đó mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt 6,7 tỷ USD, tăng 21,9%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 14,2 tỷ USD, tăng 8,9% và chiếm 39,7% (tăng 0,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 3,8 tỷ USD, giảm 10,6% và chiếm 10,7% (giảm 2 điểm phần trăm). Hàng thủy sản đạt 1,3 tỷ USD, giảm 19,8% và chiếm 3,6% (giảm 1,2 điểm phần trăm). 

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, EU là đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 6,92 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2014. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường EU tăng: Điện thoại các loại và linh kiện tăng 15,8%; giày dép tăng 15,9%; hàng dệt may tăng 7,5%; điện tử máy tính và linh kiện tăng 73,3%. Tiếp đến là thị trường Mỹ với 6,9 tỷ USD, tăng 12,5%. Hàn Quốc đạt 1,7 tỷ USD, tăng 12,1%. ASEAN đạt 4,5 tỷ USD, giảm 1,4%. Trung Quốc đạt 3,5 tỷ USD, giảm 6,2%. Nhật Bản đạt 3,3 tỷ USD, giảm 10,9%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 02/2015 đạt 10,5 tỷ USD, cao hơn 1,2 tỷ USD so với số ước tính, trong đó hàng điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 298 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 154 triệu USD; xăng dầu cao hơn 191 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện cao hơn 112 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu cao hơn 81 triệu USD; vải cao hơn 65 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba năm nay ước tính đạt 13,3 tỷ USD, tăng 26,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,1 tỷ USD, tăng 32,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,2 tỷ USD, tăng 23,6%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng khá: Khí đốt hóa lỏng tăng 325,1%; lúa mỳ tăng 165,1%; phương tiện vận tải khác và phụ tùng tăng 157,6%; thủy sản tăng 156,3%; tân dược tăng 100%; bông tăng 67,8%; sữa và sản phẩm sữa tăng  58,8%. 

So với cùng kỳ năm trước kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba tăng 7,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 0,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,4%. Một số mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn có kim ngạch tăng cao: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 34,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 12,4%. Một số mặt hàng nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất hàng dệt may giảm: Bông giảm 7,4 %; vải giảm 22,6%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép giảm 12,7%.

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 3 tháng đầu năm nay ước tính đạt 37,5 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14,4 tỷ USD, tăng 5,7% và chiếm 38,4% (thấp hơn mức tỷ trọng 42,2% của cùng kỳ năm trước); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 23,1 tỷ USD, tăng 24,1% và chiếm 61,6% tổng kim ngạch nhập khẩu (cao hơn mức tỷ trọng 57,8% của quý I/2014). Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I đạt 38,5 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2014. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh: Ô tô đạt 1,1 tỷ USD, tăng 73,6% (ô tô nguyên chiếc tăng 154,7%); máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 6,9 tỷ USD, tăng 44,4%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 5,5 tỷ USD, tăng 31,1%; sản phẩm chất dẻo đạt 849 triệu USD, tăng 27,4%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 2,6 tỷ USD, tăng 25%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 812 triệu USD, tăng 24,9%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 34,4 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 91,7 % tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (giảm 0,2 điểm % so với tỷ trọng cùng kỳ năm 2014), trong đó máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng đạt 15 tỷ USD, tăng 20%, chiếm 40% (tăng 1,2 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 19,4 tỷ USD, tăng 13,2%, chiếm 51,7% (giảm 1,4 điểm phần trăm so với tỷ trọng cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 3,1 tỷ USD, tăng 19,2%, chiếm 8,3% (tăng 0,2 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 3 tháng đầu năm, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất với kim ngạch ước tính đạt 11,6 tỷ USD, tăng 31,5% so với cùng kỳ năm 2014 với kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng cao: Máy móc thiết bị, phụ tùng tăng 54%; sắt thép tăng 97%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 23%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 52%; vải tăng 32%. Nhập siêu từ Trung Quốc ước tính đạt 8,1 tỷ USD, tăng 58,5% so với cùng kỳ năm 2014. Nhập khẩu từ thị trường Hàn Quốc đạt 6,2 tỷ USD, tăng 12,1%; ASEAN đạt 5,4 tỷ USD, tăng 2,3%; Nhật Bản đạt 3,3 tỷ USD, tăng 31,5%; EU đạt 2,1 tỷ USD, tăng 9,8%.

Tháng Hai nhập siêu 967 triệu USD. Tính chung 3 tháng đầu năm nay, nhập siêu ước tính 1,8 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3,8 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 2 tỷ USD. Nếu sản xuất trong nước tiếp tục phục hồi thì khả năng cán cân thương mại năm 2015 theo hướng nhập siêu do phần lớn các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất, gia công lắp ráp được nhập khẩu từ nước ngoài. Đồng đô la Mỹ mạnh lên so với các ngoại tệ khác sẽ có ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam tại ở các thị trường này do hầu hết giao dịch của Việt Nam được thanh toán bằng USD.

Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng 

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2015 tăng 0,15% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng chủ yếu do ảnh hưởng từ nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên Đán Ất Mùi và các ngày lễ hội đầu năm nên giá nhiều loại hàng hóa tăng, mặt khác giá gas và giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh tăng cũng tác động vào mức tăng chung của CPI (Mức tăng giá xăng, dầu trong tháng đóng góp 0,04% vào mức tăng chung). 

Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với mức 0,36% (Lương thực giảm 0,24%; thực phẩm tăng 0,31%); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,16%. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; giáo dục tăng 0,01%; giao thông giảm 0,31%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,11%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,04%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2015 giảm 0,1% so với tháng 12/2014 và tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 0,74% so với bình quân cùng kỳ năm 2014, đây là mức tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây[8]. Biến động giá tiêu dùng tháng Ba năm nay so với tháng 12/2014 do tác động của một số yếu tố chủ yếu sau: (1) Giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm 03 đợt vào các thời điểm: 22/12/2014; 06/01/2015; 21/01/2015 và điều chỉnh tăng vào thời điểm 11/3/2015 làm giá xăng, dầu bình quân quý I giảm 21,49% so với tháng 12/2014, tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông tháng Ba giảm 8,48% và đóng góp 0,75% vào mức giảm chung của CPI tháng Ba so với tháng 12/2014; (2) Các ngành chức năng và địa phương thực hiện tốt việc dự trữ hàng hóa, bình ổn giá thị trường, phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng lên trong dịp Tết Nguyên đán của dân cư nên không xảy ra hiện tượng tăng giá đột biến như một số năm trước. Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng Ba (nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 11 nhóm hàng chính) chỉ tăng nhẹ với mức 1,17% so với tháng 12/2014, thấp hơn mức tăng cùng kỳ của một số năm trước[9].

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 3/2015 giảm 1,63% so với tháng trước; tăng 1,58% so với tháng 12/2014; giảm 5,36% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2015 tăng 0,16% so với tháng trước; tăng 0,19% so với tháng 12/2014; tăng 1,29% so với cùng kỳ năm 2014.

Chỉ số giá sản xuất 

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm nay tăng 0,2% so với quý trước và tăng 2,05% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 0,1% và tăng 1,97%; hàng lâm nghiệp tăng 1,17% và tăng 6,38%; hàng thủy sản tăng 0,42% và tăng 1,69%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý I giảm 1,06% so với quý trước và tăng 0,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 7,84% và giảm 6,86%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,04% và tăng 0,88%; điện và phân phối điện giảm 0,2% và tăng 2,46%; nước sạch, nước thải tăng 0,67% và tăng 2,72%.

Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất quý I năm nay giảm  0,13% so với quý trước và tăng 2,36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất của một số ngành như sau: Than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 10,16% và giảm 15,67%; sản phẩm từ cao su, khoáng phi kim loại giảm 0,88% và tăng 1,84%; kim loại, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 0,85% và giảm 0,94%; hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 0,72% và tăng 0,36%.

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý I giảm 2,64% so với quý trước và giảm 1,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách giảm 2,74% và giảm 3,47%; giá cước vận tải hàng hóa giảm 3,7% và giảm 0,37%; giá cước dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 1,45% và tăng 1,1%. Chỉ số giá cước vận tải các ngành đường trong quý I như sau: Giá cước ngành đường sắt giảm 1,93% so với quý trước và giảm 8,76% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải đường bộ và xe buýt giảm 5,01% và giảm 2,65%; đường thủy giảm 2,42% và giảm 1,17%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 1,45% và tăng 1,1%.

Chỉ số giá dịch vụ quý I năm 2015 tăng 0,35% so với quý trước và tăng 2,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá dịch vụ của một số ngành như sau: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,67% và tăng 2,7%; thông tin và truyền thông tăng 0,16% và tăng 0,42%; giáo dục và đào tạo tăng 0,15% và tăng 6,53%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 0,1% và tăng 1,96%.

Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I năm nay giảm 1,82% so với quý trước và giảm 3,62% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của một số mặt hàng tăng/giảm so với các kỳ tương ứng như sau: Rau quả giảm 1,18% và giảm 2,07%; sản phẩm từ hóa chất tăng 2,32% và tăng 9,41%; gạo giảm 4,36% và tăng 2,08%; hạt tiêu tăng 6,21% và tăng 37,11%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2,21% và tăng 2,45%. 

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I giảm 3,73% so với quý trước và giảm 2,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của một số mặt hàng giảm so với các kỳ tương ứng như sau: Khí đốt hóa lỏng giảm 28,39% và giảm 41,06%; xăng dầu giảm 24,58% và giảm 33,83%; phân bón giảm 13,13% và giảm 17,31%; cao su giảm 7,88% và giảm 12,11%; sắt thép giảm 4,65% và giảm 5,48%. 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đến thời điểm 01/4/2015 là 53,6 triệu người (tăng 8,8 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014), bao gồm lao động nam 27,6 triệu người, chiếm 51,5%; lao động nữ 26 triệu người, chiếm 48,5%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,1 triệu người, chiếm 31,9%; khu vực nông thôn là 36,5 triệu người, chiếm 68,1%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến thời điểm trên là 47,4 triệu người, không biến động nhiều so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm lao động nam 25,5 triệu người, chiếm 53,8%; lao động nữ 21,9 triệu người, chiếm 46,2%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 15,7 triệu người, chiếm 33,1%; khu vực nông thôn là 31,7 triệu người, chiếm 66,9%.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm nay ước tính 52,5 triệu người, bao gồm 21,3 triệu người đang làm việc ở khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 40,7% tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng 13,4 triệu người, chiếm 25,5%; ngành dịch vụ 17,7 triệu người, chiếm 33,8%. 

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2015 ước tính là 2,22%, trong đó khu vực thành thị là 3,17%; khu vực nông thôn là 1,75%. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 24,2% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi có trình độ cao đẳng trở lên của cả nước là 4,39% (cao hơn 2,17 điểm phần trăm so với tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi), trong đó khu vực thành thị là 4,00%; khu vực nông thôn là 5,11%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15 - 24 tuổi) quý I ước tính là 6,20%, trong đó khu vực thành thị là 10,59%; khu vực nông thôn là 4,54%. Tỷ lệ thất nghiệp của người từ 25 tuổi trở lên quý I là 1,37%, trong đó khu vực thành thị là 1,93%; khu vực nông thôn là 1,10%. 

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm nay ước tính là 2,82%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,42%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 3,44% (Tỷ lệ thiếu việc làm của quý I/2014 tương ứng là 2,78%; 1,45%; 3,37%). 

Đời sống dân cư và an sinh xã hội

Trong tháng Ba, cả nước có 32,3 nghìn hộ thiếu đói, giảm 22,5% so với cùng kỳ năm 2014, tương ứng với 134,6 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 26,0%. Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước có 82,1 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 50,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 334,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 51,8%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 9,7 nghìn tấn lương thực và 8,5 tỷ đồng, riêng tháng Ba hỗ trợ 2,1 nghìn tấn lương thực và 200 triệu đồng. 

Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm là 3217 tỷ đồng, bao gồm: 2179 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 765 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 273 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. 

Giáo dục, đào tạo 


Theo báo cáo sơ bộ, tại thời điểm đầu năm học 2014-2015, cả nước có 14044 trường mẫu giáo, tăng 177 trường so với năm học trước; 15277 trường tiểu học, giảm 60 trường; 10312 trường trung học cơ sở, tăng 22 trường; 2390 trường trung học phổ thông, giảm 14 trường; 571 trường phổ thông cơ sở, giảm 21 trường và 381 trường trung học, tăng 27 trường. Số trường giảm chủ yếu do cơ cấu lại màng lưới trường học tại các địa phương. Trong năm học này, cả nước có 214,1 nghìn giáo viên mẫu giáo, tăng 4,5% so với năm học 2013-2014. Số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 856,5 nghìn người, tăng 0,1% so với năm học trước, bao gồm: 392,1 nghìn giáo viên tiểu học, tăng 1,3%; 312,4 nghìn giáo viên trung học cơ sở, giảm 1% và 152 nghìn giáo viên trung học phổ thông, giảm 0,5%. Cũng trong năm học này, cả nước có 3,7 triệu trẻ em đi học mẫu giáo, tăng 3% so với năm học trước; 14,9 triệu học sinh phổ thông, xấp xỉ số học sinh năm học 2013 - 2014, bao gồm: 7,5 triệu học sinh tiểu học, tăng 0,9%; 5 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 1,4% và 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông, giảm 5,2%. Tính đến thời điểm tháng 3/2015, cả nước có 26/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi.

Năm 2014, cả nước có 435 trường đại học và cao đẳng, tăng 7 trường so với năm học trước, bao gồm: 349 trường công lập và 86 trường ngoài công lập. Số giáo viên đại học và cao đẳng là 92 nghìn người, tăng 0,4%, trong đó giáo viên công lập là 75,5 nghìn người, tăng 0,4% và chiếm 82,1% tổng số giáo viên. Số sinh viên đại học, cao đẳng là 2,1 triệu sinh viên, tăng 3,3% so với năm học trước, đạt 235 sinh viên trên một vạn dân; số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng là 532,1 nghìn người, tăng 31%.  Năm 2014, có 107,4 nghìn học viên được đào tạo sau đại học và 6,4 nghìn học viên được đào tạo chuyên khoa y. Số học viên tốt nghiệp sau đại học đạt 34 nghìn người và số học viên tốt nghiệp chuyên khoa y là 2 nghìn người. 

Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp năm 2014 nhìn chung không biến động nhiều so với năm học trước với tổng số 293 trường, giảm 2 trường; 11,3 nghìn giáo viên, giảm 1,8% và 406,3 nghìn học sinh, giảm 3,7%.

Công tác đào tạo nghề tiếp tục được triển khai thực hiện tại các địa phương. Năm 2014, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh hơn 2 triệu lượt người, vượt 13,7% so với kế hoạch, trong đó sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng đạt 1,8 triệu lượt người, vượt 20,2% kế hoạch. Tổng số học viên tốt nghiệp nghề theo các trình độ đạt 1,5 triệu lượt người, trong đó tỷ lệ học viên có việc làm chiếm 80%.   

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm 

Trong tháng Ba, cả nước có 2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 1,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 56 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 21 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 03 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu. Riêng trong quý I/2015, cả nước có 7,3 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 6,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 89 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (02 trường hợp tử vong); 59 trường hợp mắc thương hàn; và 13 trường hợp mắc viêm màng não do nãomô cầu; chưa ghi nhận trường hợp nào mắc mới bệnh tả và cúm A(H5N1). 

Trong tháng đã phát hiện 578 trường hợp nhiễm HIV, tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/03/2015 là 224,9 nghìn người, trong đó 75,2 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 76 nghìn người. 

Trong tháng, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 10 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 327 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong. Trong 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 23 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 789 người bị ngộ độc, 06 trường hợp tử vong.

Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong 3 tháng đầu năm nay, nhiều hoạt động văn hóa mừng Đảng, mừng Xuân và lễ hội truyền thống được tổ chức với quy mô lớn tại các địa phương trên cả nước có sự tham gia của đông đảo người dân như: Triển lãm ảnh nghệ thuật toàn quốc lần thứ 27 tại Hải Phòng; Lễ đón bằng của UNESCO ghi danh Quần thể danh thắng Tràng An tại Ninh Bình; Triển lãm “85 năm Đảng Cộng sản Việt nam - một chặng đường vẻ vang”; Liên hoan thơ châu Á Thái Bình Dương lần thứ 2; Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ 3 tại Hà nội; Đêm thơ quốc tế Hạ Long tại Quảng Ninh; Liên hoan đờn ca tài tử Nam Bộ lần thứ 21 tại Long An; Chương trình “Gói bánh chưng xanh cùng người nghèo ăn Tết”; “Đường hoa xuân”… 

Trong hoạt động thể thao thành tích cao,  đoàn thể thao Việt Nam tham dự 25 giải quốc tế lớn và đạt thành tích ấn tượng: Giành 7 huy chương vàng, 7 huy chương bạc và 5 huy chương đồng tại Giải Vô địch Pencak Silat thế giới tại Thái Lan; giành 8 huy chương vàng, 4 huy chương bạc và 4 huy chương đồng tại Giải Vô địch Đua thuyền Châu Á; giành 2 huy chương vàng, 3 huy chương bạc tại Giải Judo quốc tế ở Hồng Kông; tại Giải Vô địch Fustal Đông Nam Á, đội tuyển Fustal nữ Thái Sơn Nam giành ngôi vô địch.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 3/2015 (từ 16/02 đến 15/3), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1744 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 834 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 910 vụ va chạm giao thông, làm 778 người chết; 549 người bị thương và 1177 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 0,3% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 20,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 14,2%); số người chết tăng 27,8%; số người bị thương tăng 25,9% và số người bị thương nhẹ giảm 8,4%. 

Tính chung 3 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 5851 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2684 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 3167 vụ va chạm giao thông, làm 2345 người chết; 1646 người bị thương và 3842 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm 2014, số vụ tai nạn giao thông giảm 11,1% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2%; số vụ va chạm giao thông giảm 17,6%); số người chết giảm 3,4%; số người bị thương giảm 6,6% và số người bị thương nhẹ giảm 18,3%. Bình quân 01 ngày trong 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 65 vụ tai nạn giao thông, gồm 30 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 35 vụ va chạm giao thông, làm 26 người chết, 18 người bị thương và 43 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai

Thiên tai xảy ra trong 3 tháng đầu năm làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư của một số địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 268 ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 7,5 ha hoa màu và 2,4 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; hơn 9,9 nghìn m3 đất, đá, bê tông đường bị sạt lở, cuốn trôi. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong 3 tháng đầu năm ước tính 34 tỷ đồng.

Bảo vệ môi trường, tình hình cháy, nổ

Trong tháng Ba, các cơ quan chức năng phát hiện 1,2 nghìn vụ vi phạm môi trường tại các địa phương, xử lý 328 vụ với số tiền phạt hơn 10,7 tỷ đồng. Trong 3 tháng đầu năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện 2,7 nghìn vụ vi phạm môi trường, trong đó 1,1 nghìn vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt gần 28,8 tỷ đồng.

Trong tháng Ba, trên địa bàn cả nước xảy ra 294 vụ cháy, nổ làm 7 người chết và 27 người bị thương, thiệt hại ước tính 49,2 tỷ đồng. Trong 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 839 vụ cháy, nổ làm 27 người chết, 67 người bị thương, gây thiệt hại ước tính 177,1 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế - xã hội nước ta quý I có những chuyển biến rõ nét về phục hồi tăng trưởng. Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định. Lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp. Thu ngân sách Nhà nước từ nguồn thu nội địa đạt khá. Sản xuất công nghiệp tăng cao. Môi trường kinh doanh có những dấu hiệu được cải thiện. Cầu tiêu dùng tăng lên. Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi, sản xuất trong nước vẫn còn không ít khó khăn, tồn tại chưa được giải quyết triệt để cũng như tiếp tục đối mặt với những thách thức mới: Kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhưng thiếu tính bền vững. Nợ công có xu hướng tăng nhanh và việc quản lý, sử dụng nợ công chưa tốt. Áp lực giảm nợ xấu trong hệ thống ngân hàng; cán cân thương mại nghiêng mạnh về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cho thấy khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn đang yếu. Kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng nông, thủy sản được xem là thế mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu có sự sụt giảm đáng kể (gạo, cà phê, thủy sản...). Kinh tế toàn cầu phục hồi chậm và sẽ có không ít bất trắc xảy ra. Trong thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết số 19/NQ-CP và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công của Chính phủ, tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau đây: 

Một là, duy trì chính sách tiền tệ thận trọng, điều hành lãi xuất cho vay phù hợp với lãi suất huy động. Thực hiện giảm nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng đi đôi với kiểm soát nợ xấu, tăng dư nợ tín dụng để vừa bảo đảm ổn định hệ thống và từng bước tiếp cận các chuẩn mực và thông lệ chung, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua việc thực hiện cơ chế cho vay linh hoạt hơn đối với tài sản thế chấp. Quản lý chặt chẽ nợ công. Từng bước đổi mới cơ chế, chính sách quản lý nợ, bảo đảm hiệu quả, thống nhất. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay trong nước và vốn vay nước ngoài theo hướng hiệu quả, theo đó phải chọn lọc, ưu tiên vốn cho các công trình, dự án quan trọng, cấp thiết, đồng thời tăng cường trách nhiệm trong thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư.

Hai là, cần ưu tiên giải quyết triệt để vấn đề khó tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Phát triển mạnh thị trường, cơ cấu lại các doanh nghiệp trong nước theo hướng vực dậy các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tiếp tục thực hiện và đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, thúc đẩy việc thoái vốn và giảm mạnh tỉ lệ sở hữu nhà nước khỏi loại hình doanh nghiệp này. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân, kích thích các doanh nghiệp này tham gia nhiều hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thông thoáng, tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển nhằm khai thác tối đa tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế. 

Ba là, trong năm 2015, hàng loạt hiệp định thương mại tự do sẽ được ký kết và đi vào hoạt động, mở ra cho Việt Nam khả năng phát triển thị trường khá hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội “vàng” mang lại, hoạt động thương mại trong nước sẽ đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt khi hàng rào thuế quan giảm. Vì vậy các doanh nghiệp phải chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, ngày càng mở rộng thị trường qua việc hình thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Để kiểm soát nhập siêu và khắc phục khó khăn trong xuất khẩu hàng hóa hiện nay, nhất là hàng nông sản khi thị trường xuất khẩu mặt hàng này có xu hướng bị thu hẹp bởi sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá cả dẫn tới kim ngạch sụt giảm, các doanh nghiệp xuất khẩu cần theo dõi sát diễn biến thị trường, đồng thời tích cực mở rộng thị trường theo hướng đa phương hoá, phát triển các thị trường mới, thị trường tiềm năng. Đặc biệt cần tập trung nghiên cứu xây dựng thị trường chiến lược, đồng thời dành sự ưu tiên lớn trong đầu tư, phát triển thị trường quan trọng này.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Tháng 3-2015

*****
Chú thích:
[1] Mức tăng GDP quý I của một số năm: Năm 2011 tăng 5,90%; năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%
[2] Mức tăng  quý I của ngành công nghiệp một số năm: Năm 2012 tăng 7,86%; năm 2013 tăng 4,43%; năm 2014 tăng 4,17%.
[3] Mức tăng quý I của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số năm: Năm 2012 tăng 8,74%; năm 2013 tăng 4,38%; năm 2014 tăng 5,97%.
[4] An Giang, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận, Cà Mau, Điện Biên, Đăk Lăk, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hòa Bình, Khánh Hòa, Kon Tom, Long An, Lai Châu, Lâm Đồng, Nghệ An, Ninh Thuận, Sơn La, Tây Ninh, Yên Bái.
[5] Bình Định, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đăk Lăk, Gia Lai, Khánh Hòa, Lào Cai, Phú Yên, Thừa Thiên - Huế, Vĩnh Phúc.
[6] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
[7] Dầu thô, điện thoại các loại và linh kiện, điện tử máy tính và linh kiện, máy ảnh máy quay phi m và linh kiện, thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh, phương tiện vận tải và phụ tùng, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác, đá quý kim loại quý và sản phẩm
[8] CPI quý I so với cùng kỳ của các năm như sau: Năm 2005 tăng 9,07%; năm 2006 tăng 8,31%; năm 2007 tăng 6,58%; năm 2008 tăng 16,38%; năm 2009 tăng 14,47%; năm 2010 tăng 8,51%; năm 2011 tăng 12,79%; năm 2012 tăng 15,95%; năm 2013 tăng 6,91%; năm 2014 tăng 4,83%.
[9] CPI tháng Ba so với tháng 12 năm trước của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống một số năm như sau: Năm 2005 tăng 6,1%; năm 2006 tăng 4,0%; năm 2007 tăng 4,18%; năm 2008 tăng 14,45%; năm 2009 tăng 1,6%; năm 2010 tăng 6,35%; năm 2011 tăng 8,31%; năm 2012 tăng 2,29%; năm 2013 tăng 3,1%.




Hồ Chí Minh bát ngát những mùa sen...




Người sinh ra khi mùa sen vừa nở Làng Chùa,
Làng Sen thoang thoảng thầm thì
Nắng gió nhen hồng hoa sen thắp lửa
Mẹ ru hời tiếng hát có hương sen…

Và tuổi thơ chờ mùa sen sen nở
Sen thơm con đường đất đỏ làng quen
Rồi một thuả xa quê, mùi sen tưởng nhớ
Trong câu ca Ví Giặm bồn chồn…

Sen vẫn nở trong vườn ao nhà sàn của Bác
Cá tung tăng đớp nắng hồn nhiên
Cây vú sữa cây dừa gợi nhớ
Một miền xa Đồng Tháp những mùa sen…

Câu hát nào hát về sen Đồng Tháp
Vút lên tên Bác, sen nở sao vàng…
Có gì đẹp và thiêng liêng hơn thế
Hồ Chí Minh… bát ngát những mùa sen!

14/3/2015
Hồ Bá Thâm

10 quốc gia hạnh phúc nhất thế giới đều năm ở Mỹ Latinh



Tổ chức nghiên cứu Gallup đã đưa ra Chỉ số Trải nghiệm tích cực 2015 (Positive Experience Index 2015). Theo bảng chỉ số này, lần đầu tiên trong một thập kỷ qua, tốp 10 quốc gia hạnh phúc nhất thế giời đều là các nước Mỹ Latinh. 

Được bắt đầu từ năm 2012, Ngày Quốc tế Hạnh phúc do Liên Hiệp Quốc khởi xưởng nhằm đề cao tầm quan trọng của cuộc sống hạnh phúc và lành mạnh như một mục tiêu toàn cầu. Để đánh giá mức độ hạnh phúc trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã phỏng vấn khoảng 1.000 người dân ở mỗi quốc gia. Tất cả những người tham gia có độ tuổi từ 15 trở lên, sẽ trả lời về sự hạnh phúc mà họ cảm thấy trong vài ngày trước đó.

Gallup đã đề nghị những người được hỏi xem xét lại những ngày trước đó. Họ có được nghỉ ngơi đầy đủ không? Họ có được đối xử một cách tôn trọng không? Họ có học được điều gì thú vị không? Kết quả cho thấy, hơn 70% số người được hỏi trên thế giới nói rằng họ được hưởng thụ niềm vui, mỉm cười và được đối xử tôn trọng. Một nửa số người tham gia cho biết, họ đã học một số điều thú vị trước cuộc phỏng vấn vài ngày. 

Các nhà nghiên cứu Gallup đưa ra “bảng đánh giá về trải nghiệm tích cực” cho mỗi quốc gia, dựa trên các câu trả lời khảo sát. Nhìn chung, các nước trên thế giới có mức điểm số từ 71 – 100. Theo đó, các nước Trung Đông và Bắc Phi (MENA) có chỉ số trải nghiệm tích cực trung bình là 59, đây là số điểm thấp nhất trong các khu vực trên thế giới. 

Các cuộc thăm dò không đo lường tổng sản phẩm trong nước (GDP) của mỗi quốc gia, mà tập trung vào các câu hỏi về những cảm xúc tích cực mà dân chúng đã trải qua. Chẳng hạn, GDP của Guatemala đứng thứ 118 trên thế giới, nhưng đây là quốc gia hạnh phúc thứ hai thế giới trong năm theo Chỉ số Trải nghiệm tích cực của Gallup. 

Nguyễn Tú
(Theo Live Science)


Giải thưởng KOVALEVSKAIA 2014



Giải thưởng Kovalevskaia năm 2014 đã được trao cho Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Lan, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên.

Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Lan là một trong những chuyên gia hàng đầu về ngành thú y, đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học, đào tạo và trực tiếp tham gia các hoạt động phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm.

Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Lan là nữ giáo sư duy nhất là Uỷ viên Hội đồng chức danh Giáo sư liên ngành Chăn nuôi – Thú y - Thuỷ sản nhiệm kỳ 2014-2019; là một trong ba giáo sư của Trường Đại học Thái Nguyên được mời vào Hội đồng chức danh Giáo sư Quốc gia. Chị đang tham gia đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học tại Khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên.

Gần 40 năm công tác tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, chị đã biên soạn 16 giáo trình, sách chuyên khảo và sách tham khảo cho đào tạo bậc đại học và sau đại học; hướng dẫn gần 400 khoá luận tốt nghiệp đại học, 36 luận văn thạc sỹ, 13 luận án tiến sỹ; là chủ nhiệm 14 đề tài, trong đó có một đề tài cấp nhà nước, bốn đề tài cấp Bộ; có 81 bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế.

Trong nhiều năm qua, chị đã vượt qua khó khăn, xuống tận các làng bản, ăn ở cùng dân, giúp dân chữa bệnh cho các đàn gia súc, gia cầm. Các nghiên cứu khoa học của Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Lan đều có tính ứng dụng cao.

Một số nghiên cứu nổi bật của chị là đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu sản xuất kháng nguyên tái tổ hợp phục vụ chế tạo các bộ Kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Trypanosoma spp trên gia súc ở Việt Nam”. Chị và các đồng sự đã kết hợp với chi cục thú y sáu tỉnh (Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hoà Bình, Lai Châu, Khánh Hoà và Tây Ninh) tổ chức triển khai lấy mẫu máu một số loài gia súc trên địa bàn các tỉnh, phân lập được các chủng tiên mao trùng ký sinh và gây bệnh ký sinh trùng đường máu ở trâu, bò, ngựa, dê, lợn.

Bằng phương pháp sinh học phân tử và ứng dụng công nghệ cao, đề tài do Giáo sư Nguyễn Thị Kim Lan làm chủ nhiệm đã nghiên cứu ra các bộ Kit chẩn đoán nhanh, chính xác đến 98% bệnh tiên mao trùng (Trypanosoma spp) trên gia súc (là loại bệnh nhiễm ký sinh trùng đường máu phổ biến ở trâu, bò, gia súc với tỷ lệ nhiễm 30-60% tuỳ theo tỉnh – gây thiếu máu, thiếu dinh dưỡng nên khi trời lạnh gia súc dễ bị ngã nước chết) và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp, an toàn 100% với gia súc, giúp điều trị bệnh đạt kết quả tốt.

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu tình hình nhiễm giun, sán đường tiêu hoá ở dê cỏ tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và biện pháp phòng trị” được thực hiện từ 2003-2007, đã xác định được đặc điểm dịch tễ của các bệnh giun, sán trên các đàn dê địa phương của các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang; xác định được phương trình hồi quy để tính ra số giun, sán ký sinh trên dê; xây dựng được quy trình phòng chống bệnh giun, sán cho đàn dê của các tỉnh.

Quy trình đã được các địa phương ứng dụng rộng rãi với 85% số hộ chăn nuôi dê ở các tỉnh áp dụng, có tác dụng làm giảm rõ rệt tỷ lệ nhiễm bệnh ký sinh trùng, giảm 45% so với đối chứng, từ đó đàn dê béo khoẻ, mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho các hộ chăn nuôi dê, thu nhập từ chăn nuôi dê của các hộ tăng khoảng 15-20% so với trước khi áp dụng quy trình.

Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Lan đã được phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú, Huân chương lao động hạng Ba, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Đ. Thu



Thông tin từ ISSTH

Thông tin tổng hợp

Kho số liệu của ISSTH

Diễn đàn trí thức

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Đào tạo

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn