01-02-2015

CỦNG CỐ VÀ XÂY DỰNG VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

TS. Hồ Bá Thâm
 Hiện nay hệ tư tưởng của Đảng ta đang đứng trước bốn thách thức, bốntình huống, bốn nhiệm vụ chính như sau: một là, phải phê phán, bác bỏcác luận điệu xuyên tạc phủ nhận mang tính thù địch đối với chủ nghĩa
Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như là Cương lĩnh của Đảng; hai
là, phê phán những nhận thức không đúng, sai trái, biểu hiện suy thoái
về tư tuổng chính trị, đạo đức lối sống của một số người không hiểu
đúng hệ tư tưởng của Đảng nói trên; ba là, tiếp thu cho được tinh hoa
dân tộc và thời đại, tổng kết được kinh nghiệm lịch sử, dự báo được xu
hướng tương lai, nâng hệ tư tưởng ngang tầm tiên tiến nhất của thời
đại; bốn là, phải kiên định nhưng trên tinh thần đổi mới, phát triển
và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…
Bốn thách thức, tình huống nói trên đồng thời cũng tạo nên cơ hội để
củng cố, phát triển, xây dựng nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời
đại/ kỷ nguyên của xã hội thông tin, công nghệ cao; nền kinh tế thị
trường hiện đại; nền dân chủ pháp quyền cao; toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế; bảo vệ vững chắc chủ quyền dân tộc, bảo vệ độc lập tư do, đưa
đất nước tiến cùng thời đại: dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
an bình, tự do và hạnh phúc.
Giải quyết 4 thách thức, tình huống hay nhiệm vụ nói trên về mặt nền
tảng tư tưởng một cách thành công là một nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng
trong công tác xây dựng Đảng, vấn đề có tính chất sống còn hiện nay.
Một đảng trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh, là tinh hoa
và lương tâm dân tộc là phải mạnh, trong sáng, tiến tiến về cả tư
tưởng, đạo đức cả về mặt tổ chức, bộ máy, cả về đội ngũ cán bộ đảng
viên, cả về phương thức cơ chế lãnh đạo, cầm quyền. Trong đó linh hồn
sống là mặt hệ tư tuởng, giá trị đạo đức, tất nhiên không phải bay lơ
lững trên không mà nằm chính ngay mạch nguồn sống của cuộc đời, trong
thực tiễn sinh động, trong cây đời xanh tươi…
Đảng  ta là một chủ thể với tư cách là đội tiên phong, bộ tham mưu
chiến đấu, tổ chức lãnh đạo, cầm quyền như Hiến pháp 2013 khẳng định,
đó là chủ thể, về nguyên tắc phài  có ý thức tự giác, có trí tuệ cao,
tiến tiến nhất, có đạo đức, có lương tâm trong sáng nhất. Có như thế
Đảng mới làm tròn được sứ mệnh của mình vừa là người lãnh đạo vừa là
người đấy tớ trung thành nhất của nhân dân và dân tộc…đưa dân tộc tiến
lên sánh vai cùng các nước phát triến và tiến bộ, thành một nước xã
hội chủ nghĩa văn minh, hiện đại trong tương lai của thời đại ngày
nay.
Tuy nhiên, trong hiện thực cuộc sống, và không bao giờ đảng là một ông
thánh và cũng không nên thần thành hóa đảng. Sống trong lòng xã hội,
dù cố vượt lên gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn nhưng với không ít
cán bộ đảng viên sẽ bị “dính bùn” mà không quyết tâm tránh và sửa sạch
đã bị tha hoá, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống,
thật sự không còn là đảng viên, thậm chí không xưng đáng là một công
dân thời đại văn minh, cần phải loại bỏ khỏi cơ thể lành mạnh, tiến
bộ. Đồng thời về mặt tổ chức, bộ máy, phương thức, nhất là khi đảng
cầm quyền cũng có không ít “hư hỏng” (Hồ Chí Minh), lạc hậu, trì trệ,
kém hiệu quả, “lỗi hệ thống”… mà chúng ta không thể lãng tránh. Ngược
lại, phải đối mặt, mổ xẻ, loại bỏ, thay thế, bổ sung và cải cách- phát
triển.
Hiện nay đúng là nhiệm vụ củng cố, xây dựng và hoàn thiện hệ tư tưởng
và cũng là hệ giá trị văn hóa của Đảng ta là cực kỳ nặng nề và to lớn.
Không thể để cho bọn thù địch, kẻ xấu, cơ hội chủ nghĩa, đục phá, thậm
chí “đăt mìn” phá hoại nền tảng ngôi nhà tư tường nhân văn của đảng;
cũng không để “lỗ mối”, hay sự tàn phá của thời gian, sự hư hỏng hoặc
sự vẩn đục, sai lạc, lạc hậu, sâu bọ rắn rết làm sụp đổ từ những yếu
tố đến nền tảng tinh thần của ngôi nhà ấy của Đảng ta, một đảng đang
cầm quyền. Không chỉ phòng tránh, bảo vệ hoặc sửa chữa, gia cố nền
tảng ấy mà chủ yếu còn là phải tiếp tục, đổi mới, làm trong sáng, phát
triển sáng tạo, bổ sung những chất liệu mới, nhân tố mới, công nghệ
mới có hàm lượng khoa học, trí tuệ và nhân văn cao, tạo nên những chất
lượng mới. Đó là nhiệm vụ sau nặng nề hơn, quyết định hơn nhiều. Bỏ
trống, hay không tấn công, đấu tranh đủ sức áp đảo trên trận địa đấu
tranh tư tưởng là sai lầm, là nguy cơ và nguy hiểm. Nhưng che giấu/
hay lung lúng/ hay chần chừ, bảo thủ/ thõa mãn hay lãnh cảm về những
khuyết điểm, khuyết tật, yếu kém, lạc hậu mặt này hay mắt khác của nền
tảng tưởng, của nền văn hóa chính trị - đạo đức của hiện thực thì cũng
sai lầm nghiêm trọng và nguy cơ lớn. Hơn nữa, quan trọng nhất, quyết
định nhất là khả năng tư phê phán, tự đổi mới, bổ sung, tái cấu trúc,
phát triển sáng tạo, nâng cao chất lượng của nền tảng tư tưởng ấy một
cách cơ bản, thương xuyên theo tinh thần phép biện chứng duy vật, thực
tiễn, khoa học và cách mạng.
Thế giới ngày nay biến đổi rất nhanh chóng, các học thuyết, chủ nghĩa
nào mà không sớm thay đổi, thích ứng, chịu được thử thách, vượt qua
thử thách, nắm vững cơ hội, tự đổi mới, vươn lên ngang tầm trí tuệ
thời đại… thì sẽ tụt lại phiá sau, thậm chí khủng hoảng và sụp đổ. Chủ
nghĩa Mác - Ăngnghen - Lênin là loại học thuyết có năng lực tự đổi mới
và sáng tạo, tự vượt lên ấy. Tất nhiên phải thông qua cán bộ đảng viên
tiên phong, có bản lĩnh và có trách nhiệm cao của Đảng.
Phê phán và cách mạng, phân tích cụ thể tình hình cụ thể để có giải
pháp cụ thể, chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo là linh hồn của
chủ nghĩa Mác- Lênin. Giáo điều hóa, tả khuynh hóa hay hữu khuynh hóa
nó, hạ thấp, phủ nhận hay thần thành hóa nó cũng sai lầm nghiêm trọng.
Thời thế có thể đổi thay nhưng phương pháp luận nhận thức và hành động
là cái bất biến và còn lại mãi như chính Mác- Ănghen – Lênin - Hồ Chí
Minh đã nhấn mạnh và đặc biệt lưu ý…V.I. Lênin từng nói một ông C.Mác
chứ 70 ông C. Mác cũng không thể thay thế được trí tuệ đương thời. Dù
những tư tưởng cơ bản hay cụ thể của các ông được các thế hệ trân
trọng, nghiên cứu và vận dụng, nhưng đó không phải là công thức bất
biến, “khuôn vàng thước ngọc”, một “lý tưởng” cứng nhắc mà ta nhất
nhất phải nhắm mắt tuân theo, không thể vượt qua. Phương pháp luận
biện chứng cách mạng dưới ánh sáng thế quan duy vật, thực tiễn, biện
chứng và nhân văn, mà các ông cung cấp cho chúng ta, như một công cụ
vĩ đại, toàn năng, cũng như cách các công nghiên cứu hiện thực, khám
phá, sáng tạo, tử đổi mới thì đó mới đúng là “khuôn vang thước ngọc”.
Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, không ít người không thấy được điều
có tính nền tảng này. Việc nghiên cứu trình tiến hóa của lịch sử xã
hội, các ông đưa ra dự báo khoa học về sự thay đổi, thay thế chủ nghĩa
tư bản khi nó hết vai trò lịch sử, bằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản, như một tất yếu phổ biến cốt lõi trong hệ tư tưởng của giai
cấp công nhân hiện đại, đang trí thức hóa. Đó cũng là chân lý có ý
nghĩa tuyệt đối trong thời đại ngày nay, tuy rằng khi nào, ở đâu, bằng
hình thức, phương pháp nào, diễn ra ra sao là hết sức cụ thể mà các
thế hệ mác xít đương thời phải lựa chọn và giải quyết. Chân lý là cụ
thể, cách mạng là sáng tạo là như vậy. Linh hồn sống động của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là như vậy!
Hệ tư tưởng không chỉ thấy trên góc độ lý luận mà còn phải thể hiện
trong việc định hướng, giải quyết các vấn đề thực tiễn sai/ đúng như
thế nào. Bảo vệ hay củng cố, xây dựng nó không chi là lập luận lôgích
chặt chẽ, khoa học mà nhất là sự “lập luận”, “chứng minh” trong thực
tiễn, bằng thực tiễn, nói và làm thống nhất ra sao. Còn phải thấy
rằng, không chỉ lý luận phải biến thành thực tiễn mà thực tiễn cũng
phải biến thành lý luận. Vấp váp, sai lầm, không sửa hay không sửa kịp
thời, bảo thủ trì trệ hay duy ý chí, đều dễ làm “mất uy tín” hệ tư
tưởng, dù là hệ tư tưởng cho là tiến tiến. Xem xét nó, cải biến nó
trong dòng lịch sử văn hóa, tư tưởng - hiện thực của nhân loại, của
thời đại và dân tộc đầy thiên biến chính là cách thức tạo nên sức mạnh
của hệ tư tưởng. Việc làm, hành động thực tiễn luôn cao hơn lý luận,
“một tấm gương tốt hơn một tá cương lĩnh”(V.I,Lênin), dù rằng lý luận
soi sáng hành động, không có phong trào cách mạng nếu không có lý luận
cách mạng, không có lý luận tiên phong thì không có đảng tiên phong.
Đảng phải nắm lý luận cho vững. Và chính Hồ Chí Minh đã thấm nhuần và
là một điển hình nổi bật  như vậy.
Nhận thức là một quá trình biện chứng. Và hành động còn phức tạp hơn
nhận thức. Nên có thể ấu trĩ, sai lầm tả hoặc hữu hoặc tả khuynh. Vấn
đề là dám sửa, và biết sửa sai. phê phán hay tự phê phán phải mang
tinh thần xây dựng, biện chứng, duy vật thực tiễn - nhân văn chứ không
phải tô đen, khoét sâu, sai lầm khuyết điểm, “vo tròn bóp méo”, “đâm
bị thóc chọc bị gạo”, “nhờ bão bẻ măng”…mà thững những kẻ xấu,cơ hội,
nhất là thù địch hay sử dụng. Ngược lại, nếu chỉ tô hồng, che giấu
khuyết điểm sai lầm, lạc hậu, hư hỏng nào đó, không dám đối mặt với sự
thật, dù có khi cay đắng, thỏa mãn với những gì đạt được cũng là xa
rời, làm ngược lại tinh thần mác xít chân chính. Và nếu như thế là
đảng yếu chứ không phải đảng mạnh, như Hồ Chí Minh, lúc đương thời đã
nhận xét, khuyến cáo. Dù có lúc này lúc khác nhưng, về cơ bản, Đảng ta
luôn luôn thể hiện là một đảng cách mạng, khoa học, nhân văn biết vượt
qua chính mình. Tự phê phán và thay đổi sau cải cách ruộng đất, trong
thời kỳ dổi mới từ năm 1986 hay hiện nay, như nghị quyết trung ương 4,
khóa XI đã chỉ ra đã minh chứng như vậy. Tinh thần này phải được phát
huy cao hơn nữa trong bước ngoặt, nhiều thách thức và cũng nhiều cơ
hội hiện nay.
Chỉ có những người có động cơ thù địch, hoặc động cơ xấu hoặc có cách
nhìn hạn chế, phiến diện, thiếu thông tin, không nghiên cứu cơ bản,
nên cứ khoét sâu khuyêt điểm sai lầm, mặt còn yếu kém của Đảng ta thì
mới phủ nhận chủ nghỉa Mác - Lênin, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng
ta. Không có lòng trong sáng, không khách quan, khoa học, biện chứng,
thiếu lập trường của giai cấp công nhân hiện đại, không thật sự vì dân
vì nước thì phê phán hay tự phê phán, bảo vệ hay vận dụng phát triển
chủ nghỉa Mác – Lênin sẽ không thành công và có khi lại có hại.
Trong bối cảnh hiện nay cả bình diện nghiên cứu khoa học và bình diện
đấu tranh tưởng, lý luận, nhìn chung là công tác xây dựng Đảng về nền
tảng tư tưởng, nền tảng văn hóa chính trị - đạo đức cũng là vấn đề căn
cốt, sinh tử, sống còn. Vì vấn đề xây dựng về tổ chức, cán bộ, về
phương thức lãnh đạo, cầm quyền, từ lý luận và thực tiễn… đề dựa vào,
bắt nguồn từ hệ tư tưởng, văn hóa chính trị, ý thức chính trị, đạo đức
của Đảng, tư tưởng về chính của cả vấn đề tổ chức ấy không chỉ từ cấp
trung ương mà rất quan trọng từ cấp cơ sở, địa phương. Không nhân
nhượng vói kẻ chống phá hệ tư tưởng của Đảng, nhưng cũng phải thật sự
tôn trong các ý kiến phản biện, mang tính xây dựng và chính kiến của
cán bộ, đảng viên. Ở đây dân chủ - đối thoại là cách làm hữu hiệu có
lý có tình, “thêm bạn bớt thù”. Chống sự suy thoái, tha hóa, giao
động, “tự diễn biễn” , “tự chuyển hóa” trong nội về tư tưởng và đạo
đức lối sống cũng phải bắt đầu từ phương pháp luận và nhận thức đúng
đắn trên đây.
Hiểu đúng, phát triển sáng tạo hệ tư tưởng của Đảng cũng là một cách
đấu tranh tư tưởng - lý luận rất hữu hiệu. Và đấu tranh tư tưởng - lý
luận phải đi đến những cách hiểu đúng, phát triển, vận dụng sáng tạo.
Phải kết hợp nhuần nhuyễn cả hai mặt này, không để chúng loại trừ nhau
thì chúng ta mới có cơ hội thành công trong viêc củng cố, xây dựng,
nâng cao chất lượng hệ tưởng, nền tảng tư tưởng, văn hóa chính trị của
Đảng ta, “chống tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

           

Nhà trí thức uyên bác, tài hoa

Từ một thi nhân với tiếng thơ hùng tráng, chuyển lối rẽ sang nghiên cứu khoa học, Phạm Huy Thông thực sự là linh hồn của đề tài và của các hội nghị khoa học xã hội và nhân văn.
Giáo sư - Viện sĩ Phạm Huy Thông - Ảnh: Gia đình cung cấp

Tiếng thơ hùng tráng
Tôi tìm đến ngôi nhà số 86 phố Hàng Bạc, Hà Nội. Di sản còn lại của một gia đình tư sản dân tộc yêu nước vẫn còn đây, nơi Phạm Huy Thông cất tiếng khóc chào đời rạng sáng ngày 20.11.1916. Ngôi nhà này đã là nơi Tiếng địch sông Ô ra đời, nơi Phạm Huy Thông viết Con voi già tặng cụ Phan Bội Châu; các tập thơ Tần Ngọc, Tây Thi và các kịch thơ: Tần Hồng Châu, Huyền Trân công chúa, Kinh Kha... đều được khai sinh tại ngôi nhà này.
Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã nhận định chưa
“Và cho dù có thế nào đi nữa, GS Phạm Huy Thông mãi mãi sống trong lòng các thế hệ học trò của ông, như một học giả uyên bác có nhiều cống hiến cho khoa học, một thầy giáo nặng ân tình, một con người... “biết người, biết của”.
GS Lương Ninh - ĐHQG Hà Nội
bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của thơ Huy Thông: “Hơi văn mà đến thế thực đã đến bực phi thường. Anh hùng ca của Victor Hugo tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn đương chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mạnh”.   Bất ngờ rẽ ngang sang khoa học, từ biệt nàng thơ, năm 21 tuổi Phạm Huy Thông đỗ tốt nghiệp cử nhân luật và sang Pháp du học. Sau hai năm học, tốt nghiệp cử nhân sử, địa tại Trường đại học Toulouse, năm 1939, Phạm Huy Thông đến Paris để tiếp tục theo chương trình trên đại học về sử, địa, luật, kinh tế chính trị học. Năm 26 tuổi, Phạm Huy Thông đỗ tiến sĩ luật học và 28 tuổi ông lại lấy thêm bằng thạc sĩ sử - địa. Năm 31 tuổi, TS Phạm Huy Thông đã được phong giáo sư, làm việc tại Trường Đông phương và giữ chức Ủy viên Hội đồng Giáo dục tối cao của Pháp.

Người thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tháng 4.1946, ông Phạm Văn Đồng, trên cương vị Phó chủ tịch Quốc hội, dẫn đầu “Phái đoàn thiện chí” sang Pháp. Trước khi đoàn lên đường, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội Võ Nguyên Giáp đã giới thiệu với Phạm Văn Đồng về Phạm Huy Thông. Họ biết nhau từ những năm dạy trường tư thục tiến bộ Thăng Long (1937 - 1938) ở Hà Nội.
Trở sang lần thứ hai, để thương lượng với Chính phủ Pháp ở Hội nghị Fontainebleau, ông Phạm Văn Đồng đã đề nghị Phạm Huy Thông làm thư ký riêng cho Hồ Chủ tịch.
Chính trong thời gian vừa làm thư ký riêng của Hồ Chủ tịch vừa làm
Bảy mươi tuổi, nhìn lại cuộc dấn thân phục vụ Tổ quốc kể từ Cách mạng tháng Tám, Giáo sư - Viện sĩ Phạm Huy Thông tự hào:
“... Dấn thân lên con đường của Cách mạng tháng Tám, được Cách mạng tháng Tám in trong tâm hồn một dấu ấn không thể nào phai, tôi không hề tiếc gì hết khi nhìn lại con đường đã qua tuy con đường ấy khác hẳn con đường đã ước mơ. Như chiến sĩ cách mạng Pháp Gabriel Péri, tôi có thể nói: “Nếu phải hay được làm lại cuộc đời, thì tôi sẽ lại đi con đường đã đi”.
thư ký của hội nghị Fontainebleau; hằng ngày phải tranh luận với đại biểu của Pháp để thảo ra một thông báo chung của hội nghị cho báo chí; Phạm Huy Thông đã bị Hồ Chí Minh chinh phục. Trong hồi ký, ông viết: “Từ viết văn đến nhận thức, tôi đã học được nhiều. Tuy cần nói rõ, như mọi trí thức học dưới mái trường Pháp, tôi đâu dễ nghe ai khuyên nhủ! Nhưng với tình cảm sẵn có với Bác, với phấn khởi được sống bên Bác một thời gian, với cách nói năng ôn tồn và thấm sâu của Bác, tôi đã từng bước, từng bước sang một thế giới mới...”. Từ bỏ vinh hoa phú quý, GS Phạm Huy Thông dấn thân vào con đường đấu tranh cho độc lập dân tộc. Đến cuối năm 1952, trước khi bị trục xuất về nước, GS Phạm Huy Thông đã nhiều năm cáng đáng trọng trách về mọi mặt của Hội Việt kiều yêu nước.
Thực dân Pháp đưa ông về quản chế ở Ô Cấp (Vũng Tàu), nhà lao Chí Hòa, rồi Bà Chiểu và trung tâm huấn chỉnh Biên Hòa. Từ chối lời mời ra làm Tổng trưởng Giáo dục trong chính phủ Nguyễn Văn Tâm, GS Phạm Huy Thông cùng luật sư Nguyễn Hữu Thọ sáng lập “Phong trào đòi hòa bình ở Đông Dương”... Một lần nữa, ông bị bắt trục xuất ra khỏi Sài Gòn, bị giam tại Hải Phòng.

Đặt những viên gạch đầu tiên
Sau khi được giải thoát khỏi nhà tù của chính quyền Sài Gòn, GS Phạm Huy Thông được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm vừa được thành lập năm 1956.
11 năm làm hiệu trưởng (1956 - 1967), lãnh đạo một nhà trường lớn, ông đã đưa Đại học Sư phạm thành đơn vị tiên tiến xuất sắc trong ngành giáo dục. Vào đầu những năm 1960, trường liên tục nhận được những phần thưởng cao quý của nhà nước: Huân chương Lao động hạng ba (1961), Huân chương Lao động hạng nhì (1962)…
Mặc dù bận rộn trong công tác quản lý, GS Phạm Huy Thông vẫn dành thời gian cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. PGS-TS Nghiêm Đình Vỳ, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm Hà Nội, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương, nhớ về người thầy của mình:
“Một trong những công lao lớn của GS Phạm Huy Thông không chỉ đối với ngành sư phạm mà cả giới nghiên cứu về lịch sử thế giới là việc chủ trì, tổ chức, hướng dẫn việc biên soạn một bộ giáo trình về lịch sử thế giới từ cổ đại đến hiện đại. Việc coi nhẹ nghiên cứu lịch sử thế giới nói chung, lịch sử khu vực nói riêng là một thiếu sót. GS Phạm Huy Thông đã nhận thấy thiếu sót này, nên đã tổ chức lực lượng nghiên cứu, biên soạn giáo trình lịch sử thế giới...
Có thể xem bộ giáo trình Lịch sử thế giới do GS Phạm Huy Thông tổ chức, hướng dẫn biên soạn là viên gạch đầu tiên đóng góp vào việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thế giới ở Việt Nam”.
Năm 1967, GS Phạm Huy Thông được giao nhiệm vụ xây dựng Viện Khảo cổ học và sau đó là Tạp chí Khảo cổ học ra đời do ông làm tổng biên tập. Là viện trưởng đầu tiên, ông đã có 20 năm làm Viện trưởng Viện Khảo cổ học (1968-1988) cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời.
GS-TS Hoàng Xuân Chinh - Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam, cho biết: “Trong thời gian ở Viện, GS Phạm Huy Thông có yêu cầu cao đối với cán bộ cũng như đối với bản thân mình. Bài viết của GS thường được sửa chữa nhiều lần, kể cả lúc đã lên khuôn. Đối với cán bộ, bất kể là cán bộ đại học hay phó tiến sĩ, không kể là bài tạp chí hay bản thông báo ngắn, đều được GS hướng dẫn sửa chữa hay tự tay GS sửa chữa. Chính nhờ vậy mà ông đã tạo nên được một phong cách làm việc nghiêm túc cho cán bộ khảo cổ học”.
Hơn 40 năm hoạt động, Giáo sư-Viện sĩ Phạm Huy Thông (1916-1988) đã giữ nhiều trọng trách: Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm Hà Nội, quyền Bí thư Đảng ủy Bộ Giáo dục, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa II, III. Ông được bầu làm Viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm khoa học CHDC Đức (1987). Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 (năm 2000) dành cho cụm công trình nghiên cứu về khảo cổ học: Trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam, Hang Con Moong và Hùng Vương dựng nước.
 (Theo Thanh Niên)

BÁC NGHE VÍ GIẶM ĐÊM NAY

Bác nghe ví giặm quê mình
Đêm nay ngày hội tôn vinh…, Bác à!
Đâu xưa ở Mạc Tư Khoa
Ví giặm nay đã vang xa toàn cầu
Nghe câu ví giặm thẳm sâu
Lắng trong non nước bạn bầu cùng ca
Đò đưa đầu quản nắng mưa
Sông Lam vẫn chảy nghìn xưa đến giờ
Ta say câu hát câu hò
Ta thương ta nhớ bến đò… người đi…
Bác ơi xứ Nghệ mình đây
Núi Hồng sừng sững gió mây xanh ngàn
Đã qua cái thuở cơ hàn
Bà con cô bác hân hoan xuân thì…
Cánh đồng thẳng cánh cò bay
Ra khơi gió lộng, đò đầy qua sông
Đường đi vượt dốc hanh thông
Câu ca ví giặm mặn nồng gừng cay
Bác nghe vi giặm đêm nay
Vinh đây, Nam Đàn đó có chầy chi mô
Cái thời độc lập - tự do
Câu ca ví giặm vang xa toàn cầu
Quê hương mở lối mạnh giàu
Lời xưa Bác dặn câu hò còn vang
Bay theo ví giặm lên ngàn
Đêm nay bát ngát lời vàng bay xa…
Bác cười khi thấy quê nhà
Đổi thay, tiến bộ, đậm đà tình chung!
Thành Vinh soi bóng Lam cùng
Ngẩng lên núi Hồng con thấy Bác vui!
           
31/1/2015
Hồ Bá Thâm

Một cô gái bán thân để lấy số tiền 1,4 tỷ đồng để cứu anh trai

Một cô gái ở Vân Nam, Trung Quốc, cầm tờ giấy thông báo sẵn sàng kết hôn với bất kỳ ai miễn là cô nhận được số tiền tương đương với 1,4 tỷ VNĐ để cứu anh trai.
Cô gái 24 tuổi, mặc chiếc váy cưới đứng ở nhà ga đường sắt Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc vào ngày 24-1-2015 với mong muốn tìm kiếm cuộc hôn nhân cấp bách. Cô cho biết mình sẵn sàng lấy bất kỳ ai nếu được nhận số tiền tương đương với 1,4 tỷ VNĐ để cứu anh trai.
Được biết, cô đang phải kiếm tiền để trả hóa đơn viện phí cho anh trai lên tới 300.000 nhân dân tệ (hơn 1 tỷ VNĐ).

Anh trai của cô là Huang Xichao, bị bệnh bạch cầu. Anh được tiến hành ghép tủy xương vào tháng 10-2013 với chi phí 300.000 nhân dân tệ. Tuy nhiên, anh Huang Xichao bị biến chứng sau phẫu thuật và buộc phải có thêm 300.000 nhân dân tệ để tiếp tục chữa trị.

Các hóa đơn viện phí cứ thế chồng chất và anh Huang thấy có lỗi vì gánh nặng đặt lên vai em gái.

Bán thân với giá 1,4 tỷ đồng để cứu anh trai.

Mẹ của 2 anh em Huang qua đời cách đây vài ngày. Quá túng quẫn, cô gái nghĩ đến việc "bán thân" sẽ là cơ hội tốt nhất để có tiền. Cô gái cho biết, mình sẵn sàng làm mọi việc để cứu anh và không cần quan tâm người khác nghĩ gì.

Quá túng quẫn, cô gái nghĩ đến việc "bán thân" sẽ là cơ hội tốt nhất để có tiền.

Tuy nhiên, hành động này của cô gái lại khiến dân mạng tranh cãi gay gắt.

Một số người cho rằng: "Nếu tôi là người anh, tôi thà chết còn hơn để em gái làm điều này. Tôi sẽ không hy sinh cả cuộc đời em gái để sống thêm vài năm". Trong khi đó, lại có người bày tỏ: "Cô ấy chỉ muốn thu hút sự chú ý của công chúng. Đó là cách duy nhất để các phương tiện truyền thông đăng tải mong có người giúp đỡ. Cô không còn sự lựa chọn nào khác".

Theo Khám phá

31-01-2015

ANH SÁU ƠI!


(Tưởng nhớ linh hồn anh Nguyễn Sĩ Sáu, đại úy, Bí thư đảng ủy, chinh trị viên trưởng đội 23 TNXP, thủ trưởng trực tiếp của tác giả bài thơ này)

Anh Sáu ơi!
Dốc cua 32 còn đó
Khe Ny còn kia
Dòng Kà Roòng vẫn chảy
Anh đâu rồi anh ơi!
Dốc cua 32
Trên đường đi nhận nhiệm vụ mới
Bom đạn Mỹ chặn bước anh rồi
Mây rừng trắng trời tang tóc
Cây vút nhọn như chông
Nhằm vào đầu quân giặc…
Những đoàn xe như mũi tên vun vút…
Anh Sáu ơi!
Một nụ cười đôn hậu
Ánh mắt dịu hiền và khích lệ
Chính trị viên như mẹ như cha
Anh biết khôi hài khi phê bình, phê phán
Anh biết đặt người đúng việc, ôi đôi mắt xanh
Anh chuyện trò cùng trưởng bếp
Anh khuyên nhủ trạm trưởng barie
Nghiêm khắc với ai giấu dốt…
Ôi trái tim anh
Tình đồng đội mênh mông mênh mông
Như cây rừng trùm lên xanh mát
Dốc cua 32 còn đó
Khe Ny còn kia
Dòng Kà Roòng vẫn chảy
Sáng đen tối ấy…
Em không kịp về tiễn biệt anh
Người đã dắt dìu chúng em
Biết thế nào là đảng viên biết thế nào là chiến sĩ
Anh đâu rồi anh Sáu ơi!
Sáng nay thăm lại chốn này
Như thấy dấu chân anh còn đó
Ánh mắt nhìn âu yếm thân thương
Dõi theo chúng em mỗi bước quân hành…
Anh, anh Sáu ơi! Anh Sáu!
Người con của Xô-viết Nghệ An
Anh mãi còn trong tâm khảm chúng em
Những người chiến sĩ TNXP một thời
Tình anh như tình cha nghĩa mẹ
Anh Sáu ơi, anh Sáu ơi!
Xin cúi đầu… dâng hương thơm!
 

1968-2015
HỒ BÁ THÂM

Xu hướng mới trong đào tạo tiến sĩ trên thế giới: Tái định hình khái niệm

 
Sứ mạng của tiến sỹ là tìm kiếm tri thức nhằm phát triển học thuật.

Trong mấy năm gần đây, có ba hiện tượng nổi bật trong vấn đề đào tạo tiến sĩ trên phạm vi toàn thế giới: một là vai trò chủ động của chính phủ nhiều nước trong việc xác lập những kế hoạch và mục tiêu đầy tham vọng nhằm tạo ra một số lượng lớn người có bằng tiến sĩ; hai là hiện tượng ngày càng nhiều tiến sĩ làm việc ngoài khu vực hàn lâm; và cuối cùng là hiện tượng “lạm phát bằng tiến sĩ” hay nói cách khác, sự “mất giá” của bằng tiến sĩ trong mắt công chúng, nhất là ở những nước đang phát triển như Việt Nam, nơi mặc dù thiếu thốn nguồn nhân lực chất lượng cao, những người có bằng tiến sĩ không còn được kính trọng như xưa. Một câu hỏi đập vào mắt tất cả mọi người: Chúng ta đang có quá ít, hay quá nhiều tiến sĩ? Đàng sau câu hỏi này là một vấn đề quan trọng hơn nhiều: chúng ta quan niệm thế nào là tiến sĩ? Khái niệm “tiến sĩ” chứa đựng những giá trị, chuẩn mực, kỳ vọng gì và nó đã diễn tiến như thế nào qua thời gian? Liệu cái cách mà chúng ta đang đào tạo tiến sĩ có đáp ứng được những gì xã hội thực sự cần, và nếu như phải thay đổi, chúng ta có những lựa chọn như thế nào? Đó là những vấn đề được thảo luận trong Hội thảo về Đào tạo Tiến sĩ: Vấn đề Chính sách, Sư phạm, và Thực tế, do Khoa Sau ĐH, trường ĐH RMIT (Australia) tổ chức tại Melbourne ngày 11 và 12.12.2014, với sự tham dự của các học giả Australia, UK, New Zealand, Ethiopia, Malaysia và Việt Nam. Bài viết này là ghi nhận và suy nghĩ về một số vấn đề đã được nêu ra và thảo luận tại Hội thảo.

Quan niệm về tiến sĩ và mô hình đào tạo tiến sĩ

Trước hết là một bức tranh toàn cảnh, những điểm hội tụ và phân kỳ trong vấn đề đào tạo tiến sĩ trên toàn cầu, do giáo sư Denise Cuthbert, Trưởng khoa Sau Đại học của trường ĐH RMIT (Australia) trình bày. Sự trỗi dậy và lan rộng mọi nơi của nền kinh tế tri thức từ giữa những năm 90 đã dẫn đến việc định vị lại GDĐH như một thành tố quan trọng của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, là điều có ý nghĩa to lớn đối với sự hiểu biết của chúng ta về đào tạo tiến sĩ cũng như việc quản lý quá trình này. Kinh tế tri thức cũng khiến cho năng lực nghiên cứu của các trường ĐH trở thành đối tượng quan tâm của chính sách ở mọi cấp: cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp độ toàn cầu; hay nói cách khác, vấn đề đào tạo tiến sĩ đã trở thành một vấn đề chính trị trên toàn cầu.

Bởi vậy, từ những năm 90 trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến mối quan tâm có ý nghĩa chính trị to lớn chưa từng có tiền lệ trước đó đối với việc đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là ở những nền kinh tế mới nổi hay các nước đang phát triển như khu vực châu Á và tiểu vùng châu Phi. Cuthbert đã thu thập hơn 200 văn bản chính sách của các nước về vấn đề đào tạo tiến sĩ từ 1996 đến nay. Ở Australia, đã có ít nhất 30 văn bản chính sách chủ yếu có liên quan vấn đề này từ năm 1998 đến nay. Các tổ chức châu Âu như LERU, EUA cũng có những hành động chính sách mạnh mẽ về đào tạo tiến sĩ. Châu Á càng nổi bật hơn với những chính sách tăng cường tiến sĩ: Chương trình Trí tuệ Hàn Quốc dự định đào tạo 1300 tiến sĩ mỗi năm trong thời gian 1998-2005; Malaysia nhắm tới 60.000 tiến sĩ từ nay đến năm 2023, Ấn Độ đặt mục tiêu 20.000 tiến sĩ trước năm 2020, Zimbabue đòi hỏi tất cả giảng viên của mình phải có bằng tiến sĩ trước năm 2015. South Africa cũng cho thấy sự quan tâm mạnh mẽ của chính sách đào tạo tiến sĩ và coi đó như một động lực của nền kinh tế (Tebeje Molla, Deakin University, Australia).

Đồng thời, câu hỏi về việc những người có bằng tiến sĩ đã phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế tri thức như thế nào và cuộc thảo luận gần đây về khả năng được sử dụng, khả năng tìm được việc làm phù hợp của các tiến sĩ cũng ngày càng trở nên nổi bật. Khái niệm truyền thống về học vị tiến sĩ coi họ như những người nghiên cứu chuyên nghiệp và sứ mạng của họ là tìm kiếm tri thức nhằm phát triển học thuật, coi tri thức là mục tiêu tối hậu, không nhất thiết là tri thức đó phải tạo ra một lợi ích vật chất cụ thể nào, “research for its own sake”, nghiên cứu vì lợi ích của chính nó, chứ không nhằm vào một mục đích cụ thể, quan niệm này đã từng thống trị giới hàn lâm trong nhiều thế kỷ đến mức thậm chí có học giả cho rằng những người hướng nghiên cứu của mình vào việc phục vụ cho những người đương thời là những kẻ “đánh đĩ tri thức” (“intellectual prostitutes”, Dugatkin, 1999), tức bán linh hồn cho những mục tiêu ngắn hạn trước mắt.

Quan niệm cực đoan như thế của trường phái “tháp ngà” ngày nay hầu như không còn chỗ đứng. Tuy nhiên, nó đã phản ánh một thực tại là trong nhiều thế kỷ qua, chỗ làm của các tiến sĩ chủ yếu là ở các trường ĐH và viện nghiên cứu. Ngày nay, kinh tế tri thức đòi hỏi một lực lượng lao động có kỹ năng cao trong việc nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao tri thức. Dường như khu vực sản xuất kinh doanh bên ngoài nhà trường ngày càng cần những người được đào tạo kỹ năng nghiên cứu bậc cao như các tiến sĩ. Lối đào tạo tiến sĩ theo kiểu hàn lâm truyền thống đã không chú ý đến việc đào tạo những kỹ năng đa dạng và linh hoạt để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới việc làm bên ngoài trường ĐH, thậm chí ngay cả những kỹ năng cơ bản để thực hiện nhiệm vụ truyền thống của các tiến sĩ như kỹ năng giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu, họ cũng không được đào tạo bài bản. Bởi vậy, đang có một khoảng cách giữa mô hình đào tạo tiến sĩ hiện nay và những gì các tiến sĩ có thể mang lại cho thế giới việc làm ngoài nhà trường.

Ở châu Âu, đào tạo tiến sĩ cũng không còn đơn thuần là một vấn đề học thuật, mà là một mục tiêu trong việc quản lý trường ĐH và của chính sách quốc gia. Số người có bằng tiến sĩ đang được coi là chỉ báo hoạt động của các trường ĐH cũng như cho năng lực nghiên cứu của quốc gia. Barbara Kehm (University of Glasgow, UK) cho rằng, trong bối cảnh của Tiến trình Bologna, ngày càng nhiều ý kiến phê phán lối đào tạo tiến sĩ theo kiểu truyền thống: quá hẹp, quá nhấn mạnh đến luận án thay vì phải chú trọng đến quá trình đào tạo. Kehm cho rằng ở châu Âu, đào tạo tiến sĩ đang trở nên rất đa dạng về mục đích và mô hình: có đến 9 loại tiến sĩ khác nhau đã được nêu ra: loại tiến sĩ nghiên cứu hàn lâm kiểu truyền thống, loại tiến sĩ được đào tạo để dạy học, loại tiến sĩ được cấp bằng dựa trên số bài báo khoa học đã tích lũy được, loại tiến sĩ chuyên ngành (trong những lĩnh vực chuyên nghiệp rất hẹp và rất đặc thù, ví dụ tiến sĩ y khoa), loại tiến sĩ trên nền tảng hoạt động thực tiễn (trong các ngành nghệ thuật và thiết kế), loại tiến sĩ “tốc hành”, và loại tiến sĩ của các chương trình liên kết, loại tiến sĩ hợp tác, và tiến sĩ trong khu vực doanh nghiệp. Sự đa dạng này là một dấu hiệu của phân tầng về chức năng, và cho thấy hoạt động đào tạo tiến sĩ ngày nay không còn đơn thuần là tái sản xuất lực lượng lao động chỉ cho nghề nghiệp hàn lâm như xưa nữa. Tuy nhiên, hầu như tất cả các loại tiến sĩ trừ loại truyền thống đều bị phê phán dữ dội về việc thiếu sự nghiêm ngặt trong tiêu chuẩn và quá trình đào tạo. Sự phê phán này rút cuộc dẫn đến câu hỏi: thế nào là tiến sĩ?

Có một xu hướng khác ở một vài nước đang phát triển là một quan niệm ngày càng phổ biến coi bằng tiến sĩ là một thứ trang sức sang trọng (Ly Phạm, ĐHQG-HCM, Việt Nam). Thêm vào đó, những diễn tiến trong thái độ xã hội đối với người có bằng tiến sĩ; hiện tượng một phần ba tiến sĩ du học ngoài nước bằng tiền ngân sách đã không trở về, hoặc trở về nhưng không được sử dụng đầy đủ; và chỉ hơn một phần ba người có bằng tiến sĩ làm việc trong khu vực hàn lâm, số còn lại chủ yếu trong khu vực hành chính công, những sự kiện này ở Việt Nam cũng đòi hỏi sự xem xét lại một cách nghiêm túc quan niệm về bằng tiến sĩ.

“Tiến sĩ” gắn chặt với hoạt động nghiên cứu. Nhưng thế nào là nghiên cứu? Giáo sư Ross Gibson (University of Canberra, Australia) dẫn ra hai định nghĩa về nghiên cứu: một là định nghĩa khá nghiêm ngặt của Nhóm Công tác Tài trợ Nghiên cứu Khoa học dựa trên kết quả hoạt động của các trường ĐH New Zealand nêu ra năm 2002: “Nghiên cứu là những điều tra nguyên thủy được thực hiện nhằm đạt được kiến thức và sự hiểu biết. Hoạt động nghiên cứu thường gắn với đòi hỏi thực nghiệm hoặc có bản chất phê phán, được dẫn dắt bởi những giả thuyết hay bởi những cương vị của trí tuệ có thể đưa ra một sự đánh giá nghiêm ngặt. Nó là một hoạt động sáng tạo, độc lập, tích lũy lâu dài và được thực hiện bởi những người có kiến thức sâu trong chuyên ngành, am hiểu lý thuyết, phương pháp, và có nhiều thông tin trong lĩnh vực mà họ đang tìm kiếm tri thức. Kết quả nghiên cứu phải được mở ra cho sự sàng lọc và đánh giá chính thức của những người khác trong cùng lĩnh vực, và điều này có thể thực hiện thông qua công bố khoa học hoặc trình bày trước công chúng. Trong một số lĩnh vực, kết quả khảo sát có thể nằm trong hình thức tác phẩm nghệ thuật, thiết kế hay trình diễn. Hoạt động nghiên cứu bao hàm cả những đóng góp cho hạ tầng trí tuệ của chuyên ngành (ví dụ như từ điển hay những sách được dùng như công cụ tra cứu). Nó cũng bao gồm những thiết kế thực nghiệm, những giải pháp xây dựng, và cả những điều tra khảo sát dẫn đến những vật liệu mới hay cải thiện nó một cách đáng kể, những bộ phận mới, những sản phẩm hay quy trình mới”.

Định nghĩa thứ hai là của Bộ Nghiên cứu Khoa học, Công nghệ và Sáng tạo Liên bang Úc, đưa ra năm 2011: “Nghiên cứu được định nghĩa là sự sáng tạo ra tri thức mới, và/hoặc sử dụng những tri thức hiện có theo một cách mới và có tính sáng tạo để tạo ra những khái niệm mới, phương pháp mới, và những hiểu biết mới. Nó có thể bao gồm tổng hợp và phân tích những kiến thức đã có trước đó ở mức độ dẫn tới những kết quả mới và có tính chất sáng tạo”.

Dựa trên những định nghĩa này, hoàn toàn có thể định hình lại quan niệm về bằng tiến sĩ cũng như về quy trình, phương pháp sư phạm, tiêu chuẩn đánh giá, mô hình đào tạo phù hợp với những mục đích khác nhau.

Denise Curbert nêu lên một hình dung mới về tiến sĩ trong nền kinh tế tri thức như một hình thức đối lập với tiến sĩ hàn lâm theo truyền thống. Sự khác biệt này được bà nêu ra như sau: 



Ý tưởng về việc cần có những loại tiến sĩ khác nhau, những con đường sự nghiệp khác nhau cho họ là một ý tưởng được nhiều người chia sẻ. Barbara Kehm (University of Glasgow, UK), Morshidi Sirat (Viện Nghiên cứu GDĐH Quốc gia Malaysia), Ly Phạm (ĐHQG-HCM, Việt Nam) và Tebeje Molla (Deakin University, Australia) đều nói về nhu cầu đa dạng hóa đào tạo tiến sĩ trong bối cảnh phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Trong bối cảnh Việt Nam, quả là lãng phí nếu người học phải theo đuổi một chương trình tiến sĩ chỉ để có một tấm bằng, trong lúc những gì được đào luyện thì không có mấy liên quan đến những gì họ thực sự cần cho con đường mà họ thực sự theo đuổi. Thay vào đó, cần có những lối đi khác, cách tiếp cận khác, phương pháp sư phạm khác, có ý nghĩa thiết yếu hơn cho chính họ và cho tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh của Malaysia và các nước tiểu vùng châu Phi, sự đa dạng nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ giữa trường ĐH và giới doanh nghiệp, giữa nghiên cứu và ứng dụng, đổi mới, sáng tạo trong khu vực sản xuất kinh doanh, còn trong bối cảnh Việt Nam, sự đa dạng này cần nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ giữa trường ĐH với cộng đồng xã hội nói chung, trước một thực tế là một số lớn những người có bằng tiến sĩ đã không làm việc trong khu vực hàn lâm, cũng không làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh, mà là trong khu vực hành chính công.

Hình dung về tiến sĩ từ góc nhìn sư phạm và thực tiễn

Hội thảo cũng bàn đến những giá trị và kỳ vọng, những chuẩn mực mà xã hội và giới hàn lâm đặt ra với học vị tiến sĩ, chương trình và quy trình đào tạo tiến sĩ.

Trước hết là vấn đề động lực. Robyn Barnacle và Denise Cuthbert (RMIT University, Australia) thực hiện một nghiên cứu với 403 nhà nghiên cứu xuất sắc nhất ở khoảng giữa sự nghiệp, gần một nửa dưới 40 tuổi, và một nửa tuổi từ 41-50, thuộc mọi lãnh vực ở Australia. Kết quả cho thấy, động lực của các nhà nghiên cứu khá đa dạng, từ chỗ thỏa mãn nhu cầu tri thức hay khẳng định bản thân, cho đến ý thức về sự cống hiến tất yếu, trong đó cái thứ nhất được nhấn mạnh hơn. Có ba xu hướng động lực chính: động lực bản thân, động lực quá trình, và động lực kết quả. Kết quả này đặt ra câu hỏi là động lực nào được xem là đáng mong muốn trong việc đào tạo những người nghiên cứu, và chương trình đào tạo nghiên cứu có vai trò gì trong việc nuôi dưỡng những động lực ấy.

Từ góc nhìn của nghiên cứu sinh, họ đã đặt những niềm tin và hy vọng gì, và trải nghiệm của họ trong quá trình theo đuổi bằng tiến sĩ gợi ra cho chúng ta điều gì? Cat Mitchell (University of Auckland, New Zealand) nói về những hy vọng mà nghiên cứu sinh ấp ủ, đặc biệt với những nghiên cứu sinh là người đầu tiên trong gia đình vào đại học, bằng tiến sĩ chẳng những là hy vọng của chính họ, mà còn là kỳ vọng và mong đợi của cả gia đình và có khi cả dòng họ, quê hương. Đối với nhiều người, theo đuổi bằng tiến sĩ là một giấc mơ, và giấc mơ thầm kín ấy đã đóng vai trò là động lực giúp họ vượt qua trở ngại khó khăn. Nghiên cứu của Mitchelle cho thấy nhiều nghiên cứu sinh đã chọn theo đuổi bằng tiến sĩ vì họ tin rằng đó là cây cầu dẫn đến một nghề nghiệp vẻ vang, được xã hội tôn trọng, được bù đắp xứng đáng về lương bổng. Những hình dung về tiến sĩ ấy hình thành trong bối cảnh trường ĐH (định hình bởi các chính sách, cách tuyển sinh, điều lệ nhà trường, v.v.) lẫn một bối cảnh văn hóa xã hội lớn hơn (tiểu thuyết, phim ảnh, các phương tiện truyền thông đại chúng, v.v.) đã tạo ra một quan niệm về việc thế nào là tiến sĩ trong công chúng (Frances Kelly, University of Auckland, New Zealand).

Trong việc hướng dẫn nghiên cứu sinh, Catherin Manathunga (Victoria University, Australia) đề xuất một cách tiếp cận liên văn hóa, nhấn mạnh rằng toàn cầu hóa đã khiến cho nghiên cứu sinh quốc tế chiếm một số lượng ngày càng lớn. Ngày càng nhiều giáo sư hướng dẫn làm việc với các nghiên cứu sinh có một nền tảng văn hóa hoàn toàn khác biệt, vì vậy cần hiểu biết đầy đủ hơn những yếu tố liên đới: thời gian, nơi chốn, và kiến thức. Tác giả khích lệ các học giả phương Tây có một thái độ thách thức với niềm tin về những kiến thức được cho rằng đó là chân lý phổ quát cho mọi nơi và mọi thời đại. Một thực tế khác tương tự cũng được nêu lên, là hiện tượng “nô dịch hóa” trong nghiên cứu (Robin Barnacle, RMIT, Australia), “thực dân hóa” (Barbara Grant, University of Auckland, New Zealand), hay là coi nghiên cứu sinh như những “nô lệ”. Các nước có nền GDĐH tiên tiến như Hoa Kỳ, UK, Australia đang dựa vào nghiên cứu sinh quốc tế để thực hiện những nghiên cứu cải tiến công nghệ dưới nhiều hình thức khác nhau, và có khi xem họ như những lao động bậc cao rẻ tiền. Quan hệ giữa giáo sư hướng dẫn và nghiên cứu sinh có thể khác nhau khá nhiều, từ cực này đến cực khác. Vì nghiên cứu sinh được xem là phải thực hiện những nghiên cứu độc lập, có những giáo sư mặc dù có vai trò rất quan trọng trong công trình nghiên cứu của học trò, hầu như không được nhắc đến. Ngược lại, có những người “cướp công” của nghiên cứu sinh. Có những giáo sư hầu như không hướng dẫn gì, có người ngược lại rất tận tình chỉ dạy và truyền đạt kinh nghiệm. Bởi vậy, chất lượng của việc hướng dẫn nghiên cứu sinh đang là mối lo ngại của nhiều trường ĐH. Từ năm 1985, University of Auckland ở New Zealand đã có Sổ tay Hướng dẫn Nghiên cứu sinh do Hội đồng Giảng viên của trường phê duyệt. Văn bản này được bổ sung sửa chữa nhiều lần từ năm 1992 đến 2014, vốn dài 1 trang nay lên đến 5 trang! Danh sách những thứ “phải là” dành cho giáo sư hướng dẫn tăng từ 8 lên đến 22, qua 5 lần sửa đổi (Barbara Grant, University of Auckland). 

Thực tế trên đây cho chúng ta thấy, bức tranh về đào tạo tiến sĩ trên toàn thế giới đã khác rất nhiều so với cách đây vài thập niên, nhưng không phải ai cũng nhận thức rõ được điều này. Trong hai mươi năm qua chính sách nhiều nước đã đồng quy ở một điểm, đó là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo tiến sĩ, coi đó là một động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế quốc gia. Kinh tế tri thức như một đặc điểm của thời đại là yếu tố trọng yếu đã thúc đẩy việc đào tạo tiến sĩ và đặt ra cho nó những đòi hỏi to lớn trong việc nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, dẫn dắt các hoạt động sáng tạo và đổi mới nhằm nâng cao năng suất. Điều này kích thích chúng ta xem xét lại những hình dung, kỳ vọng và giá trị mà xã hội đã và đang đặt vào học vị tiến sĩ như một đỉnh cao của kiến thức học thuật. Thật đáng ngạc nhiên là hiện nay có rất ít nghiên cứu về chủ đề trên. Hội thảo này là một diễn đàn nhỏ của các nhà chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực đa ngành, có am hiểu về giáo dục quốc tế, có sự gắn bó mạnh mẽ với sự nghiệp nghiên cứu, là một nỗ lực tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề chưa được biết rõ, những vấn đề có thể dẫn tới sự đổi thay phù hợp hơn trong chính sách, trong quan niệm về học vị tiến sĩ, trong quá trình đào tạo tiến sĩ và sử dụng những người có bằng tiến sĩ như thế nào để đáp ứng với những đòi hỏi, kỳ vọng và thay đổi của xã hội.

Phạm Thị Ly

(Nguồn: http://www.her.ntt.edu.vn)



Người giàu nhất Trung Quốc mất 1,4 tỉ USD sau 1 giấc ngủ


Tài sản của doanh nhân – tỉ phú người Trung Quốc Jack Ma (Mã Vân), Giám đốc điều hành Tập đoàn thương mại điện tử nổi tiếng Alibaba, đã sụt mất 1,4 tỉ USD trong ngày 29-1 khiến cho ông này mất ngôi vị “người giàu nhất Trung Quốc”.

Tài sản của tỉ phú Mã bị “bốc hơi” mạnh nhất trong số 400 nhân vật giàu nhất thế giới chỉ sau một thời gian ngắn. Kéo theo đó là cổ phiếu của Alibaba giảm ở mức kỷ lục do doanh thu không đạt như kỳ vọng.

Với việc khối tài sản bốc hơi 1,4 tỉ USD, ông Mã nhường lại vị trí “người giàu nhất Trung Quốc” cho nhà tài phiệt bất động sản Wang Jianlin. Chỉ số Bloomberg Billionaires Index cho biết tài sản của họ Wang nhiều hơn ông Mã (26,3 tỉ USD) 400 triệu USD.

Tỉ phú Jack Ma. Ảnh: Bloomberg

Doanh nhân 50 tuổi nổi tiếng với thương hiệu thương mại điện tử Alibaba này đã mất tổng cộng số tiền 4,1 triệu USD kể từ thời điểm cổ phiếu công ty chốt ở mức cao kỷ lục ngày 10-11-2014, sau đó giảm dần.

Nhà phân tích Wang Weidong đến từ Công ty tư vấn Internet IResearch, trụ sở ở Thượng Hải, nhận định dù tài sản của ông Mã bốc hơi 1,4 tỉ USD chỉ trong một ngày nhưng ông chủ Alibaba vẫn còn nhiều tài sản bí mật chưa được công khai.

Trong quý thứ ba vừa qua, doanh thu của Alibaba đạt 26,2 tỉ nhân dân tệ (4,2 tỉ USD), thấp hơn con số 27,6 tỉ nhân dân tệ do các nhà phân tích tài chính dự đoán. Nguyên nhân đến từ hoạt động quảng cáo trên di động thu được ít lợi nhuận so với trên máy tính. Ngoài ra, các giao dịch trên nền tảng Tmall tăng trưởng với tốc độ chậm.

Sau khi chốt phiên giao dịch ngày 29-1 tại New York – Mỹ, cổ phần của Alibaba giảm 8,8 % xuống còn 89,81 %. Trong khi đó, công ty bất động sản và hệ thống vận hành rạp chiếu phim của tỉ phú Wang vừa chào bán chứng khoán lần đầu tiên ra công chúng (IPO). Giá trị cổ phiếu Công ty Wanda Cinema Line của nhà tài phiệt này cũng tăng gấp đôi để từ khi bắt đầu giao dịch trên sàn chứng khoán Thâm Quyến kể từ ngày 22-1-2015.

Họ Mã trở thành người giàu nhất Trung Quốc vào tháng 9-2014. Một thời gian ngắn, ông vượt qua tỉ phú Hồng Kông Li Ka-shing để trở thành người giàu nhất châu Á.

Thực hiện: P.Nghĩa 

(Nguồn: Nld.com.vn)



Thông tin từ ISSTH

Thông tin tổng hợp

Kho số liệu của ISSTH

Diễn đàn trí thức

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Đào tạo

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn