Thứ Tư, ngày 16 tháng 4 năm 2014

SỰ THẬT VỀ PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM.

HÒA THƯỢNG THÍCH THANH TỨ.

Đạo Phật là một tôn giáo có bề dầy lịch sử. Với trên 2.500 năm hiện diện trên thế giới, dù phải trải qua những thăng trầm của lịch sử, song, đạo Phật đã tự khẳng định mình trong đời sống xã hội. có những đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện nhân cách của mỗi con người, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ hòa bình của mỗi quốc gia. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho mỗi chúng ta là phải nghiên cứu đúng đắn bản chất của tư tưởng giáo lý đạo Phật trên cơ sở phương pháp luận khoa học và tổng kết thực tiễn đã được kiểm nghiệm qua quá trình hình thành và phát triển đạo Phật ở các nước. Với nước ta, đạo Phật đã từng là quốc giáo trong suốt chiều dài lịch sử Đinh, Lê, Lý, Trần gắn liền với tên tuổi và tư tưởng của các vị thiền sư, pháp sư, quốc sư như Khuông Việt, Đỗ Thuận, Vạn Hạnh, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông…

1. Đạo Phật được truyền vào Việt Nam đến nay đã 20 thế kỷ, vốn có tư tưởng truyền thống gắn liền với sinh hoạt văn hóa “nông nghiệp lúa nước”, một nền văn hóa nhân bản bao dung, trí tuệ và khai phóng, đượm sắc thái hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát. Chính vì thế mà đạo Phật đã được nhân dân Việt Nam đón nhận một cách trân trọng có chọn lọc.

Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn mười hai sứ quân, năm 968, ông lên ngôi Hoàng Đế (Đinh Tiên Hoàng), lập nên nhà Đinh, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Sau khi lên ngôi, ông đã phong ngài Ngô Chân Lưu làm Khuông Việt Thái Sư (vị sư phò tá nước Việt), pháp sư Trương Ma Ly được phong làm Tăng Lục Đạo sĩ, thiền sư Đặng Huyền Quang được phong làm Sùng Chấn Uy nghi. Thời vua Lê Đại Hành có quốc sư Vạn Hạnh và pháp sư Đỗ Thuận. Từ đây, đạo Phật được Vương triều công nhận như là nền tảng đạo đức quốc gia và hàng ngũ tăng sĩ phật giáo chính thức tham gia cố vấn ở nơi triều chính.

Như vậy, các vị Quốc sư, Thiền sư, Pháp sư là những người có công lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, các ngài đã khai hóa nền văn hóa quốc gia, đã giáo hóa toàn dân hộ trì triều đình để cùng nhau giữ gìn non sông gấm vóc và đấu tranh giành lấy quyền độc lập, tự do cho quốc gia trong gần năm thế kỷ, kể từ đời nhà Đinh trở về sau (968-1504).

Nhà Lý kế nghiệp nhà Lê hơn hai thế kỷ. Vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) vốn là học trò của quốc sư Vạn Hạnh và được trưởng thành trong môi trường Phật giáo. Do đó, ngài rất thấm nhuần tư tưởng giáo lý đạo Phật và đã có sự kết hợp hài hòa giữa đạo và đời nhằm hướng toàn dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước. Chính vì vậy, có thể coi triều đại nhà Lý là triều đại của Phật giáo.

Tinh thần đó đã được nhà Trần kế tiếp và tạo dựng đất nước trong gần hai thế kỷ trị vì. Vua Trần Nhân Tông là người đã từng lãnh đạo nhân dân đánh tan giặc Nguyên Mông. Sau khi giành thắng lợi, ông đã nhường ngôi cho con trai và lên núi Yên Tử để xuất gia tu hành, ông đã trở thành vị Tổ sư sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, được mọi người tôn ngài là vị Phật tổ của Việt Nam với danh hiệu Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.

Dân tộc Việt Nam đã từng trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, song, dù ở giai đoạn nào thì những hình ảnh của các vị Thiền sư, Pháp sư, Quốc sư, Phật tử đứng ra hộ trì đất nước đã trở nên rất gần gũi, thân quen với người dân. Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tốc chống Pháp và Mỹ, cứu nước, nhiều cơ sở tự viện của Phật giáo đã trở thành những căn cứ nuôi giấu cán bộ cách mạng; nhiều tăng ni, phật tử trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng như cố Hòa thượng Thiện Chiếu, cố Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, cố Hòa thượng Thích Thiện Hào, cố Hòa thượng Thích Thế Long…và còn nhiều vị tăng ni trực tiếp tòng quân cầm súng chiên đấu ngoài mặt trận. Trong lao động sản xuất, thực hiện nếp sống đạo đức văn hóa, nhiều vị tăng ni, phật tử trở thành những người tiêu biểu, gương mẫu, là chỗ dựa đáng tin cậy trong khối đại đoàn kết toàn dân. Đó là những minh chứng cho tinh thần yêu nước chân chính của đạo Phật Việt Nam hòa mình trong dòng chảy lịch sử của dân tộc.

2. Phật giáo đồ Việt Nam xuất phát từ trong lòng dân tộc, lại được rèn luyện trong tinh thần vô ngã, phá chấp, lục hòa, nên có ý thức sâu sắc về sức mạnh vạn năng của sự đoàn kết và coi đó là tiền đề quan trọng để đưa đến những thành công bền vững của mọi sự nghiệp. Chỉ kể từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công đến trước năm 1981, tăng ni, phật tử Việt Nam đã khởi xướng và tiến hành bốn cuộc vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam:

- Cuộc vận động thống nhất Phật giáo năm 1951.

- Cuộc vận động thống nhất Phật giáo năm 1960.

- Cuộc vận động thống nhất Phật giáo năm 1964.

- Cuộc vận động thống nhất Phật giáo năm 1980.

Như vậy, nguyện vọng thống nhất Phật giáo trong cả nước đã được chư tôn giáo phẩm, cư sĩ phật tử, các tổ chức hệ phái phật giáo quan tâm khởi xướng từ rất sớm. Cuộc vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất, thứ hai và thứ ba diễn ra trong hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh chia cắt, cơ duyên chưa hội đủ để thực hiện đúng ý nghĩa, danh xưng thống nhất Phật giáo trong cả nước.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi, đất nước thống nhất, giang sơn liền một cõi, Bắc Nam sum họp một nhà. Đó là yếu tố quyết định để tăng ni, phật tử cả nước khơi dậy nguyện vọng thống nhất Phật giáo đã từng ấp ủ lâu nay mà chưa thực hiện được. Đó chính là cơ sở quan trọng cho sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay.

Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt nam ra đời vào những ngày đầu của mùa xuân năm 1980 (tháng 2-1980), với sự tham gia tích cực của chư tôn giáo phẩm, phật tử cư sĩ, lãnh đạo các tổ chức hệ phái Phật giáo. Đó là niềm cổ vũ lớn đối với giới tăng ni, phật tử cư sĩ Phật giáo Việt Nam mà đỉnh cao là Hội nghị thống nhất Phật giáo được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 7-11-1981 tại chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội với sự hiện diện của 165 đại biểu đại diện cho chín tổ chức hệ phái Phật giáo trong cả nước:

- Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam.

- Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

- Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam.

- Ban liên lạc Phật giáo yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh.

- Giáo hội Tăng già nguyên thủy Việt Nam.

- Hội đoàn kết sư sãi yêu nước miền Tây Nam Bộ.

- Giáo hội Khất sĩ Việt Nam.

- Giáo hội Phật giáo Thiên thai giáo quán tông.

- Hội Phật học Nam Việt.

Sau những ngày làm việc nghiêm túc, thẳng thắn, đoàn kết, hòa hợp, đại biểu của chín tổ chức hệ phái Phật giáo đã quyết định hợp nhất với danh xưng là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, trên tinh thần thống nhất ý chí và hành động trong cùng một cơ cấu tổ chức và lãnh đạo, nhằm duy trì chính pháp, đề cao chính tín, góp phần tích cực cùng toàn dân xây dựng đất nước. Hội nghị thống nhất Phật giáo cả nước thành công chính là kết quả của tinh thần đại hoan hỉ, đại hòa hợp của tăng ni, phật tử Việt Nam, lại nhờ có đại duyên nước nhà hoàn toàn được độc lập, thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Phật giáo nước nhà, thực hiện sứ mệnh tiếp nối truyền thống vẻ vang của 2.000 năm truyền bá giáo lý Đức Phật trên đất nước ta và viết tiếp những trang sử mới cho Phật giáo Việt Nam ở cuối thế kỷ XX, với phương châm hoạt động “Đạo Pháp - Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội “.

3. Hội nghị thống nhất chin tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước năm 1981thành một tổ chức Phật giáo duy nhất tại Việt Nam với danh xưng “Giáo hội Phật giáo Việt Nam’, một tổ chức đại diện cho tăng ni, phật tử Việt Nam trong và ngoài nước là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với Phật giáo nước nhà. Đó là sự kết tinh trí tuệ, một quá trình chuẩn bị lâu dài của hàng triệu tăng ni, phật tử Việt Nam cũng như của các vị đứng đầu các tổ chức, hệ phái phật giáo trong cả nước. Tại hội nghị quan trọng này, phương châm hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được đề ra: “Đạo Pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”. Đây là phương châm hoạt động mang tính xuyên suốt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Trước hết, phải khẳng định rằng, thực hiện phương châm; ‘Đạo Pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội’ là sự lựa chọn đúng đắn của Giáo hội, thể hiện sự kế thừa có chọn lọc theo những tư tưởng quan điểm “khế lý, khế cơ” của giáo lý Đức Phật và truyền thống của lịch sử Phật giáo Việt Nam đã được các bậc tổ sư tiền bối hun đúc trong suốt 20 thế kỷ qua.

Nói đến Đức Phật là nói đến phương pháp hợp lý, hợp cơ để đem tư tưởng giáo lý trong sáng của Đức Phật áp dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và mỗi thời đại. trong giáo lý của mình,, Đức Phật đã từng chỉ ra rằng, công tác “hoằng dương chính pháp” phải được vận dụng một cách linh hoạt, tùy theo tình hình thực tiễn để truyền bá, sao cho đạt được kết quả có lợi ích nhất, trên tinh thần “Bất biến tùy duyên. Tùy duyên bất biến”. như vậy, bản chất của Đạo Phật không hề bị mất đi, mà còn làm giàu thêm tư tưởng giáo lý Đức Phật trong thời đại ngày nay.

Xuất phát từ những giá trị tư tưởng của quan điểm đó, ngay khi đạo Phật được truyền vào nước ta, các vị tăng ni, phật tử đã tiếp nhận giáo lý đạo Phật một cách có chọn lọc, dựa trên điều kiện cụ thể của nước nhà để hoằng dương chính pháp, tạo nên sự gắn bó mật thiết không thể phân ly giữa đạo pháp với dân tộc, dân tộc với đạo pháp, hòa quyện như nước với sữa trên tinh thần “Phật Pháp bất ly thế gian giác”.

Trải qua bốn triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Phật giáo được coi là thời kỳ vàng son nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, song, không phải vì thế mà Phật giáo xa rời đời sống của nhân dân, mục tiêu của dân tộc. Thời kỳ đó, các bậc đế vương, quân vương đến những người dân bình thường đều thấm nhuần tư tưởng trong sáng của giáo lý Đức Phật, những hoạt động Phật sự ích đời lợi đạo được tăng ni, phật tử quan tâm, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước.

Trải qua hơn 22 năm xây dựng và phát triển, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và kết quả đã đạt được nhiều thành tựu Phật sự quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của giáo hội, tạo nền móng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và phát triển trong kỷ nguyên mới. Thành tựu quan trọng nhất là công tác xây dựng và củng cố tổ chức của Giáo hội ngày càng được hoàn thiện, ổn định, thống nhất, vận hành có hiệu quả. Tăng ni, phật tử không ngừng lớn mạnh cả về chất lượng và số lượng, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Hệ thống giáo dục của Giáo hội được đổi mới về nội dung và phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục về nội điển và ngoại điển. Công tác hoằng dương chính pháp được phát huy, góp phần vào nhiệm vụ xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan. Quan hệ quốc tế được mở rộng trên nền tảng chính sách chung của nhà nước, thúc đẩy việc hợp tác bảo vệ hòa bình của nhân loại. Công tác từ thiện xã hội thiết thực, kịp thời. Những thành tựu đó là cơ sở để khẳng định phương châm hoạt động của Giáo hội là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với sự phát triển của đất nước và của thời đại. đó chính là sự kế thừa có chọn lọc của tư tưởng giáo lý Đức Phật và truyền thống lịch sử Phật giáo Việt Nam trong suốt 2.000 năm qua.

4. Điều 70 của Hiến pháp năm 1992 quy định rõ việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau. Đây chính là nền tảng cốt yếu của đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đối với sinh hoạt và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm ngay từ những ngày đầu, khi đất nước mới giành được độc lập. Ngày 23-11-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 5, thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) đối với chính sách tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó nhấn mạnh: Chính phủ đã bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo tôn giáo nào. Các nhà tu hành đều tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất…). đề cập như vậy, để mỗi chúng ta thấy được sự nhận thức rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với vấn để tín ngưỡng, tôn giáo nhằm phục vụ lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của toàn dân, và đó là chính sách nhất quán, trước sau như một. Điều đó cũng được khẳng định tiếp theo trong các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước Việt Nam trong các giai đoạn biến đổi của đất nước như: Sắc lệnh 134/Sl, ngày 14-6-1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong thời kỳ đổi mới có Nghị định 69/HĐBT, ngày 21-3-1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Nghị định 26-1999/NĐ-CP, ngày 19-4-1999 cua4r chính phủ và Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo của Chủ tịch nước ban hành ngày 29-6-2004, nhằm khẳng định chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam.

Nhận thức được vị trí, vai trò của mình, đồng bào và chức sắc các tôn giáo ở Việt Nam nói chung và giới tăng ni, phật tử Phật giáo Việt Nam nói riêng, trong các hoạt động của mình, luôn luôn xuất phát từ tư tưởng trong sáng của giáo lý đạo Phật, vì cuộc sống nhân sinh.

Hòa cùng với những thành tựu chung của đất nước, tăng ni, phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã hòa hợp, đoàn kết, tích cực hoạt động trên các lĩnh vực vì đạo, vì đời, làm cho Phật giáo ngày càng xương minh. Điều 4, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khẳng định: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương Phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần an lạc cho thế giới”.

Để thực hiện mục đích cao cả đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã không ngừng kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động Phật sự. Qua đó, đã cổ vũ các tăng ni, phật tử trong cũng như ngoài nước tham gia thực hiện các hoạt động Phật sự chung của giáo hội và được thể hiện trên các lĩnh vực sau:

Về mặt tổ chức: Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập từ Trung ương đến các tỉnh, thành, quận, huyện trong cả nước (với những địa phương có đủ điều kiện để thành lập theo Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam với 10 ban ngành chuyên môn hoạt động do các tăng ni, phật tử, cư sĩ trực tiếp tham gia điều hành, tổ chức các hoạt động trên tinh thần đường lối phát triển chung của giáo hội.

- Ban tăng sự hoạt động với chức năng là y cứ giới luật, pháp luật nhà nước, Hiến chương Giáo hội, giám sát hộ trì việc tu học, hành đạo của tăng ni, tự viện, báo cáo với ban thường trực Hội đồng Trị sự, nghiên cứu đề xuất các dự án chương trình hoạt động thuộc phạm vi ngành tăng sự, trình ban Thường trực Hội đồng Trị sự xét duyệt thi hành.

Trong toàn quốc có 46/64 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có đủ điều kiện thành lập tỉnh, thành Hội Phật giáo, với trên 38.866 vị tăng ni, trong đó có 28.365 vị thuộc Bắc tông; 8.147 vị thuộc Nam tông và 2.354 vị thuộc Khất sĩ. Tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường có 14.401 ngôi trong toàn quốc, trong đó có 12.036 tự viện thuộc Bắc tông, 539 tự viện thuộc Nam tông – Khmer; 361 tịnh xá thuộc Khất sĩ và 998 là niệm Phật đường (Theo báo cáo ngày 16-8-2003 của giáo hội).

- Ban giáo dục tăng ni có chức năng hình thành và quản lý hệ thống giáo dục tăng ni của Giáo hội trên khắp cả nước qua ba cấp đào tạo: Sơ cấp Phật học, Trung cấp Phật học, Đại học Phật học (cử nhân và cao học). Ngoài ra, còn có lớp Cao đẳng Phật học dành cho các tỉnh, thành hội có điều kiện để tổ chức nâng cao chuyên môn và đào tạo nhân sự.



Về đào tạo bậc Đại học và Cao đẳng Phật học, Giáo hội có ba Học viện trực thuộc trung ương; Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội đang đào tạo năm thứ hai, khóa IV với 205 tăng ni sinh theo học hệ cử nhân Phật học và 74 tăng ni sinh theo học Cao đẳng Phật học. Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Huế đang đào tạo năm thứ hai, khóa II với 155 tăng ni sinh. Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đang đào tạo năm thứ ba, khóa V với 348 tăng ni sinh. Bên cạnh đó, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tỉnh Cần Thơ, tỉnh Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh còn mở lớp Cao đẳng Phật học với tổng số trên 700 tăng ni sinh theo học.

Về đào tạo bậc Trung cấp Phật học, Giáo hội có 30 trường Trung cấp Phật học trực thuộc các tỉnh, thành Hội Phật giáo. Phía Bắc có 8 trường, phía Nam và miền Trung có 22 trường. Tổng số tăng ni sinh theo học trên 3.000 tăng ni sinh.

Về đào tạo Sơ cấp Phật học, Giáo hội mở các lớp Phật học dành cho các chư tăng Khmer và Phật giáo Nam tông ở các tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh và một số Ban đại diện Phật giáo thuộc các tỉnh, thành hội mở các lớp Phật học dành cho người mới xuất gia.

Song song với quá trình đào tạo Phật học tại các trường Trung cấp Phật học, Sơ cấp Phật học, tăng ni sinh còn được học tập văn hóa theo quy định của mỗi cấp học phổ thông cơ sở và phổ thông trung học theo hệ thống giáo dục quốc gia.

Ngoài ra, Giáo hội còn tạo điều kiện cho trên 120 vị đi du học tại nước ngoài, trong đó có 15 vị đã tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học, trở về nước để đảm trách các công việc Phật sự của Giáo hội và số còn lại đang tiếp tục hoàn thiện chương trình cao học và Tiến sĩ Phật học.

- Ban Hướng dẫn Phật tử với chức năng hướng dẫn hàng phật tử tại gia học Phật, tu Phật, hộ trì tam bảo, xây dựng nếp sống đạo đức cho các hàng phật tử góp phần xây dựng cuộc sống hòa bình, an lạc cho xã hội và tổ chức thực hiện các chỉ đạo, chủ trương công tác của Giáo hội đối với phật tử. Hiện nay, trong toàn quốc có 1.076 đơn vị gia đình phật tử, 45.000 đoàn sinh và 1.080 Huynh trưởng các cấp. Bên cạnh đó các cơ sở tự viện còn thành lập và tổ chức sinh hoạt cho các đạo tràng thường xuyên sinh hoạt, tu tập nhằm nâng cao trình độ học tập giáo lý và hộ trì phật pháp.

- Ban Hoằng pháp thực hiện chức năng hướng dẫn tăng ni, phật tử phát huy tư tưởng trong sáng của giáo lý đạo phật, làm cho ý nghĩa đích thực của đạo Phật được thể hiện trong công cuộc xây dựng đất nước, mang lại hạnh phúc, an vui cho mọi người. tổ chức biên soạn những bài giảng cho các ngày lễ lớn, biên soạn chương trình họa giáo lý của phật tử, đào tạo các giảng sư của Ban Hoằng pháp, mở khóa tập huấn cho giảng sư, điều phối, phân bổ giảng sư thuyết pháp Phật pháp trong phạm vi cả nước.

Điểm nổi bật trong công tác Hoằng pháp ngày nay là không những thực hiện đúng theo tôn chỉ và mục đích của chính pháp, mà còn được vận dụng một cách “khế lý, khế cơ” vào thực hiện cuộc sống trên hai phương diện lý thuyết và thực hành. Với kết quả như vậy, chứng tỏ rằng, chính yếu tố đoàn kết thống nhất các tổ chức Hệ phái Phật giáo trên quy mô cả nước đã đưa đến sự thống nhất về quan điểm tư tưởng và giáo lý trong chương trình thuyết giảng Phật pháp tại các đạo tràng, tự viện và trong tăng ni, phật tử ngày nay.

- Ban Nghi lễ thực hiện chức năng nghiên cứu, biên soạn và sắp xếp các nghi lễ của Phật giáo nhằm thống nhất và xây dựng các nghi lễ thờ cúng, lễ bái, tụng niệm cho tăng ni, tín đồ theo đúng chính pháp và phù hợp với từng miền, từng hệ phái. Giáo hội cũng đã có những hướng dẫn đúng đắn trong lĩnh vực vận động tăng ni, phật tử thực hiện nếp sống văn hóa, hạn chế các hủ tục và những hoạt động mang tính mê tín dị đoan, hoàn toàn xa lạ với chính pháp, không phù hợp với trào lưu tiến bộ của xã hội.

- Ban Văn hóa tập trung vào việc giữ gìn và phát huy bản chất tốt đẹp, trong sáng của nền văn hóa Phật giáo Việt Nam nói riêng và nền văn hóa Phật giáo nói chung. Hướng dẫn và khuyến khích tăng ni, phật tử sống và hành động đúng chính pháp, loại trừ các hình thức hủ tục, mê tín dị đoan, xa lạ với tinh thần từ bi, trí tuệ và nhân bản của đạo Phật. Thường xuyên lien lạc và hợp tác với cacs đoàn thể, cơ quan để góp phần cùng toàn dân xây dựng một nền văn hóa dân tộc, nhân bản, văn minh và tiến bộ. Trên lĩnh vực này, tăng ni, phật tử cả nước đã có những hoạt động tích cực trong việc bảo quản, trùng tu tôn tạo các cơ sở tự viện xuống cấp. Tổ chức in ấn, phát hành các kinh sách, báo chí nhằm xây dựng nếp sống văn hóa theo đúng chính pháp, cũng như phổ biến đến kiều bào nước ngoài về các hoạt động chung của giáo hội.

- Ban Kinh tế- tài chính thực hiện chức năng vận động tăng ni, phật tử thuộc các tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường trong cả nước tận dụng đất vườn, đất ruộng, trồng tỉa canh tác để tăng phần kinh tế tự túc cho các cơ sở và đóng góp phần công đức phí hằng năm cho Trung ương Giáo hội. tiếp nhận tài vật tiến cúng hợp pháp của các hang phật tử hay đoàn thể trong và ngoài nước. Thiết lập những cơ sở, xí nghiệp tùy theo điều kiện thích nghi, hợp pháp, có nguồn kinh tế tự lợi, lợi tha để góp phần tài chính cho hoạt động của Giáo hội. Nhìn chung, trên kĩnh vực này có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống của tăng ni, phật tử tại các cơ sở tự viện được ổn định.

- Ban Từ thiện-xã hội hỗ trợ cho Ban Thường trực Hội đồng Trị sự trong các công tác theo tinh thần vô ngã, vị tha nhằm góp phần thể hiện tinh thần từ bi, cứu khổ, ban vui của đạo Phật. Kêu gọi lòng nhân ái của các giới, không phân biệt tôn giáo, giai cấp, tạo sự cảm thông, xây dựng và phát triển cộng đồng theo phương châm hoạt động “Đạo pháp – Dân tộc – chủ nghĩa Xã hội”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Giáo hội khuyến khích các cơ sở tự viện tổ chức mở các lớp học tình thương, mở phòng khám chữa bệnh miễn phí, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ nhân đạo, quỹ vì người nghèo…Hiện nay, trong toàn quốc có 126 Tuệ tĩnh đường, nổi bật nhất là Tuệ Tĩnh đường tại thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên-Huế, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ninh Thuận, Cà Mau, Vĩnh Long, với 115 phòng thuốc chẩn trị y học dân tộc hoạt động một cách có hiệu quả và có trên 1.500 lớp học tình thương, 36 cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo bán trú, nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật…với trên 20.000 em. Kinh phí cho các hoạt động từ thiện xã hội hằng năm trên 10 tỉ đồng.

- Ban Phật giáo quốc tế có trách nhiệm liên hệ, hợp tác, hỗ trợ cho các ban, ngành khác trực thuộc Trung ương Giáo hội trong việc mở rộng mối giao lưu quốc tế, với vai trò là cầu nối cho các ban, ngành, giới thiệu tình hình Phật giáo cả nước, các vấn đề thời sự, các công trình biên khảo về Phật học, xây dựng cơ sở đại diện của Giáo hội trong đạo hữu người Việt Nam ở nước ngoài. Trong lĩnh vực này, những năm qua, Giáo hội đã tổ chức nhiều đoàn giáo phẩm cấp cao đi thăm viếng, hội thảo, trao đổi với các tổ chức Phật giáo cũng như các tôn giáo bạn trong việc tăng cường đoàn kết, củng cố hòa bình, ổn định và hợp tác như với Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Ấn Độ, Xri Lanca, Mianma, Thái Lan…

- Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam hỗ trợ và kết hợp chặt chẽ với các trường đào tạo Phật học của Giáo hội để định hướng và cố vấn cho trường tổ chức tăng ni sinh tập sự các hoạt động nghiên cứu. tổ chứ phiên dịch, in ấn và phát hành Đại tạng kinh Việt Nam và hợp tác với các viện nghiên cứu khác trong việc trao đổi học thuật và các vấn đề cùng quan tâm.

Điểm qua các hoạt động trên để thấy được những hoạt động thiết thực của tăng ni, phật tử Giáo hội Phật giáo Việt nam đều xuất phát từ giáo lý trong sáng và chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Trong lời nói đầu của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khẳng định: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

5. Gần đây, một số thông tin nước ngoài như Đài RFI của Pháp, RFA (Đài châu Á tự do) và trên một số mạng thông tin Internet đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến sinh hoạt tín ngưỡng ở Việt Nam, đặc biệt là Hạ viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Quốc hội châu Âu đã thông qua nghị quyết về ‘tự do tôn giáo ở Việt Nam”. Đối với Phật giáo, họ cố dựng lên cái gọi là ‘Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam’, một tổ chức Phật giáo lớn nhất ở Việt Nam bị Nhà nước cấm hoạt động, và ngược đãi các chức sắc lãnh đạo tối cao của tổ chức Phật giáo này, để rồi họ cố tình không để ý đến lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo ở Việt Nam, đặc biệt là các phong trào chấn hưng phật giáo và vận động thống nhất Phật giáo ở Việt Nam trong những năm đầu và giữa thế kỷ XX.

Cuộc vận động thống nhất Phật giáo lần thứ nhất diễn ra năm 1951 trên cơ sở tập hợp sáu đoàn thể Phật giáo ở cả ba miền: Bắc, trung, Nam là Giáo hội Tăng già Bắc Việt, Giáo hội Tăng già Trung Việt, Giáo hội Tăng già Nam Việt; Hội Việt Nam Phật giáo Bắc Việt, Hội Việt Nam phật học Trung Việt và Hội Phật học Nam Việt đã thống nhất thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ, đặt trụ sở tại Huế. Tuy nhiên, sự nghiệp thống nhất này vẫn chưa được trọn vẹn vì đất nước ta lúc đó đang trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, các hoạt động Phật giáo không được duy trì thường xuyên, đặc biệt là khi đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam, đất nước chia cắt thành hai miền Bắc-Nam.

Cuộc vận động thống nhất Phật giáo lần thứ hai diễn ra năm 1960 do chư tăng ni, phật tử miền Bắc hợp lại và thành lập Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ, Hà Nội do Hòa thượng Thích Trí Độ làm Hội trưởng. Đây là tổ chức Phật giáo duy nhất có sự lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương, nhưng sự thống nhất này cũng chưa được trọn vẹn vì chỉ tập trung chư tăng, phật tử miền Bắc.

Cuộc vận động thống nhất Phật giáo lần thứ ba diễn ra trong những ngày đầu năm 1964 trên cơ sở của sáu đoàn thể Phật giáo thuộc Tổng hội Phật giáo Việt Namvà năm hệ phái Phật giáo khác đã ra đời trong phong trào đấu tranh chống Mỹ ngụy ở miền Nam, đã tiến hành Hội nghị thống nhất Phật giáo với tên gọi là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”. Tổ chức này đã tập hợp được nhiều chư tăng ni, phật tử , có hệ thống tổ chức chặt chẽ và chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và các đô thị miền Nam, nhưng sự thống nhất này vẫn chưa đúng với ý nghĩa thống nhất và vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng của tăng ni, phật tử cả nước, vì chỉ mới thống nhất tăng ni, phật tử tại miền Nam, trong vùng bị tạm chiếm và cũng chưa phải gồm tất cả các tổ chức, hệ phái Phật giáo tại miền Nam lúc đó. Đặc biệt, đến năm 1967, tổ chức Phật giáo này đã bị phân chia làm hai: Việt Nam Quốc tự và Phật giáo Ấn Quang.

Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, Phật giáo ở miền Nam có hơn 10 tổ chức hệ phái, tổ chức nào cũng gọi là toàn quốc, thống nhất. Nhưng trên thực tế thì chưa một tổ chức hệ phái Phật giáo nào thực hiện đúng với danh xưng với ý nghĩa thống nhất Phật giáo toàn quốc

Đó là lý do để dẫn đến cuộc vận động thống nhất Phật giáo trong cả nước lần thứ tư, với một Hội nghị hiệp thương đã được tổ chức trong hai ngày 12 và 13-2-1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh mà đỉnh cao của sự nghiệp thống nhất Phật giáo là Hội nghị thống nhất Phật giáo được tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội từ ngày 4 đến ngày 7-11-1981. Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời trên cơ sở tự nguyện của các tổ chức hệ phái Phật giáo trong cả nước như ở trên đã đề cập. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị thống nhất Phật giáo, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Trưởng Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam nói: “Lần đầu tiên trong lịch sử 2.000 năm Phật giáo Việt Nam, chúng ta có được một hội nghị gồm đầy đủ đại biểu của các tổ chức, giáo hội, hệ phái Phật giáo trong cả nước: Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ và Phật giáo Khmer, tăng ni và nam nữ cư sĩ, già và trẻ, từ mọi miền trên đất nước đã vân tập về đây, trong hội trường trang nghiêm và rực rỡ này, với một quyết tâm sắt đá: Xây dựng hoàn thành ngôi nhà thống nhất Phật giáo Việt Nam”. Hòa thượng khẳng định tiếp: “Mục đích của chúng ta trong khi hình thành ngôi nhà thống nhất Phật giáo Việt Nam như trong nghị quyết đầu tiên của Ban vận động là: Mở ra một hướng phát triển mới trong lịch sử Phật giáo nước nhà, làm lợi ích cho Tổ quốc và nhân dân, làm sáng chói tinh thần Phật giáo trong thời đại nước Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát huy cao hơn nữa truyền thống gắn bó hài hòa giữa đạo Phật với dân tộc, bảo đảm truyền thống tín ngưỡng và phương pháp tu hành của tăng ni và đồng bào Phật tử theo lời Phật dạy. chúng ta quyết tâm củng cố hang ngũ trong nội bộ Phật giáo, đoàn kết với các tôn giáo bạn, đoàn kết với các giới đồng bào, các dân tộc trong mặt trận đoàn kết toàn dân. Với sức mạnh đoàn kết đó, chúng ta tin chắc rằng, sư mệnh phụng sự đạo pháp và dân tộc, công cuộc đóng góp cho hòa bình thế giới và hạnh phúc nhân loại sẽ được nhiều hiệu quả hơn”.

Sự thực hiển nhiên về sự nghiệp thống nhất Phật giáo ở nước ta là như vậy, đó chính là xuất phát từ nguyện vọng tha thiết của tăng ni, phật tử chứ không phải xuất phát từ ý kiến chủ quan của cá nhân nào. Điển cần phải nhấn mạnh ở đây là, năm 1976, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất đã tiến hành Đại hội VII (hai năm một kỳ) đã có nghị quyết giao cho Viện Hóa đạo có trách nhiệm liên hệ với Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam ở miền Bắc và các tổ chức hệ phái Phật giáo khác để tiến hành hiệp thương đi đến thống nhất Phật giáo trong toàn quốc. Việc Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất tham gia Ban vận động và được Hội nghị hiệp thương suy cử làm trưởng ban vận động thống nhất phật giáo năm 1980 chính là thực hiện Nghị quyết của đại hôi VII Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã đề ra trước đó.

Vậy mà một vài cá nhân cố chấp thủ cựu, đã lợi dụng chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam để câu kết với một vài phần tử phản động là người Việt Nam sống lưu vong ở nước ngoài, chúng cố tình xuyên tạc tình hình Phật giáo ở Việt Nam và cố dựng lên cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất. Ngay tại Hội nghị thống nhất Phật giáo năm 1981, cố đại lão hòa thượng Thích Đôn Hậu, Tổng Thư ký Viện Tăng Thống giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất được suy tôn làm ngôi Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh – Cơ quan lãnh đạo, giám sát tối cao các hoạt động của giáo hội Phật giáo Việt Nam về mặt đạo pháp và giới luật. và cố đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất được suy cử ngôi Chủ tịch Hội đồng Trị sự, là cấp điều hành cao nhất về mặt hoạt động của giáo hội Phật giáo Việt Nam giữa hai kỳ đại hội đại biểu, rồi chư tôn giáo phẩm cao cấp khác của 11 Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất như Hòa thượng Thích Trí Tịnh đương kim Chủ tịch Hội đồng Trị sự, cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Minh Châu, Hòa thượng Thích Trí Quảng…đều hòa mình và đảm trách các chức vụ lãnh đạo quan trọng của giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay.

Trong thư gửi Chủ tịch Hạ viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thay mặt tăng ni, phật tử cả nước kịch liệt phản đối Nghị quyết HRes.427 mà Hạ Viện Hoa Kỳ đã thông qua ngày 19-11-2003 về việc công nhận tổ chức và nhân sự lãnh đạo “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”- một tổ chức Phật giáo đã không còn hiện hữu ở Việt Nam hơn 22 năm qua, và đã tự nguyện hòa đồng tham gia Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam năm 1981 để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay. Việc công nhận đó là một sai lầm và đã tạo ra tiền lệ nguy hiểm cho một vài người muốn dựng lại quá khứ ở Việt Nam, nhằm chống đối sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân Việt Nam và Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đã xúc phạm nghiêm trọng đến tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức Phật giáo duy nhất đại diện cho giới tăng ni, phật tử Việt Nam trong mối quan hệ đối nội và đối ngoại, cũng như danh dự, nhân phẩm và quyền lợi chính đáng của tăng ni, phật tử Việt Nam.

Để thông tin thêm về Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ mà họ gọi là người lãnh đạo tối cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, người viết bài này cũng là một trong những nhân chứng tham gia Ban Vận động thống nhất Phật giáo năm 1980 xin được thưa là, ngay khi tiến hành các cuộc tiếp xúc hiệp thương để thống nhất Phật giáo cả nước, thì hai vị này cũng có những ý kiến khác nhau, nhưng đây chỉ là ý kiến cá nhân chứ không phải là Nghị quyết của Đại hội VII, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất. Và từ đó, hai vị này luôn luôn tỏ ra bất mãn với hoạt động Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cố theo đuổi những tư tưởng, quan điểm của cá nhân mình và lồng ghép yếu tố chính trị đối với Nhà nước. Vì thế, trong thư gửi Chủ tịch Hạ viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã viết: “Trong nội bộ Phật giáo chúng tôi cũng còn có một vài người không hài lòng về mặt tổ chức và hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Song, thực tế mà xét, những tư tưởng, quan điểm của những người ấy không xuất phát từ lợi ích chung của Phật giáo Việt Nam mà nhằm vào cá nhân, lồng ghép yếu tố chính trị, và kết quả việc làm của những vị ấy đã gây phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tôn giáo, vi phạm pháp luật chung của nhà nước. Việc làm đó đã hoàn toàn đi ngược lại tư tưởng giáo lý Đức Phật và pháp luật của Nhà nước”.

Tháng 3-2003, Hòa thượng Thích Huyền Quang đã ra Hà Nội chữa bệnh tại Bệnh viện K, Hà Nội. Hòa thượng đã được chư tăng ni, phật tử Hà Nội đến thăm tại bệnh viện và chùa Kim Liên, Hà Nội, nơi Hòa thượng tá túc.

Không những thế, Hòa thượng còn đến thăm Hòa thượng Thích Tâm Tịnh, Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang điều trị bệnh tại Bệnh viện Hữu nghị Hà Nôi, thăm Trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, gặp gỡ tăng ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, thăm và dự lễ khánh thành một số cơ sở tự viện thuộc các tỉnh, thành hội Phật giáo phía Bắc. Đặc biệt, còn được Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp và nói chuyện thân mật. Trong thời gian ở Hà Nội điều trị bệnh, Hòa thượng đã có những lời phát biểu đầy thiện cảm, ủng hộ sự nghiệp xây dựng, phát triển Phật giáo nước nhà. Buổi gặp gỡ và trao đổi với tôi (Hòa thượng Thích Thanh Tứ), Hòa thượng Thích Huyền Quang nói: “Bây giờ làm thế nào để xây dựng ngôi nhà Phật giáo cho tốt, cho hòa hợp”.

Gần đây nhất, tháng 9-2003, Hòa thượng Thích Huyền Quang có mời tôi vào thăm Tu viện Nguyên Thiều thuộc Tỉnh hội Phật giáo Bình Định.

Trong những ngày ở thăm Bình Định, tôi và Hòa thượng đã đi thăm một số cơ sở tự viện, di tích lịch sử văn hóa và cùng dự buổi lễ khai giảng năm học mới khóa III của Trường Trung cấp Phật học tỉnh Bình Định. Hòa thượng Thích Huyền Quang đã phát biểu trước các chư tôn giáo phẩm, đại đức tăng ni, sinh viên về tâm tư, tình cảm của mình và đã đánh giá cao những thành tựu của công tác giáo dục, đào tạo tăng tài trong những năm vừa qua của Giáo hội Phật giaó Việt Nam nói chung, của Tỉnh hội Phật giáo Bình Định nói riêng, và mong rằng những thành tựu đó sẽ được tiếp tục phát huy. Về phần mình, Hòa thượng Thích Huyền Quang cho biết sẽ có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tăng tài và tổ chức biên dịch trích lục Đại tạng kinh nhằm giúp tăng ni có điều kiện tập trung nghiên cứu những nội dung trọng tâm.

Với lời phát biểu đầy tâm huyết của Hòa thượng Thích Huyền Quang, tôi đã thay mặt Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam bày tỏ chân thành cảm kích, tán thành lời phát biểu của Hòa thượng trước buổi lễ long trọng này và có lời kính chúc sức khỏe Hòa thượng Thích Huyền Quang để có đủ sức lực thực hiện thành công Phật sự quan trọng đó, góp phần xây dựng ngôi nhà Phật giáo Việt Nam ngày một bền vững, chính pháp, xương minh, quốc gia trường thịnh, thế giới hòa bình, nhân dân an lạc.

Xuất phát từ lý tưởng giác ngộ chân lý, hòa hợp, hòa bình và công bằng xã hội của giáo lý Đức Phật, nhằm phục vụ dân tộc, phục vụ chúng sinh theo phương châm hoạt động: “Đạo Pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”, tăng ni, phật tử Việt Nam luôn luôn mong muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai.

Những hoạt động đi ngược lại tư tưởng giáo lý Đức Phật, đi ngược lại lịch sử, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của chư tăng ni, phật tử làm xáo trộn tổ chức và xã hội là có tội với lịch sử 2.000 năm Phật giáo Việt Nam và lịch sử 4.000 năm của dân tộc.

Để kết thúc bài viết này, xin được trích lời cuả Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay như một vườn hoa đầy hương sắc. Chúng ta, những người chăm sóc vườn phải biết vun cây tưới nước, bắt sâu, nhặt lá héo để cho vườn hoa thêm tươi tốt. Giáo hội chúng ta đã qua năm lần đại hôi, đầy đủ tính pháp lý, là một tổ chức có đủ điều kiện để phát triển…”.

PGS,TS Đức Vượng biên tập

Bài in trong sách "Lẽ phải của chúng ta", Nxb Chính trị quốc gia.

Thứ Ba, ngày 15 tháng 4 năm 2014

BÀ NỘI

Ai bánh bao nào,bánh bao đây...

Tôi chợt giật mình khi nghe thấy tiếng rao đó,phải tiếng rao đó làm tôi nhớ đến bà nội của tôi. Cách đây ba năm về trước,mỗi khi nghe thấy tiếng rao ai bánh bao đây là bà lật đật chạy ra mua cho tôi một chiếc. Bà đã ngoài chín mươi tuổi rồi,lưng bà đã còng sát đất khiến mỗi khi bà muốn đi đâu thì mặt của bà gần như đã chạm đất Rồi chính vì vậy mà bà rất ngại đi đâu chơi. Bà nội tôi có rất nhiều cháu nội và ngoại nhưng bà thương tôi nhất vì tôi là cô bé tàn tật ngay từ lúc lọt lòng mẹ. Bã không bao giờ rời tôi một bước vì sợ tôi buồn,có lúc tôi bảo:” Bà ơi,sao bà không đến nhà các bác chơi với mọi người?”. Những lúc như vậy bà chỉ cười bảo:”Bà già rồi đi ra ngoài ngại lắm cháu ạ!”. Bà đã rụng hết răng rồi nên mỗi khi cười là lợi của Bà chìa ra trông rất ngộ nghĩnh.
Nhà tôi rất nghèo cả nhà có sáu con người, nhiều khi nhịn đói không một miếng gì cho vào mồm, lúc đó tôi đói và mệt gần như không biết gì. Bà đã chạy sang nhà hàng xóm xin được một nắm gạo về bà mớm gạo sống rồi nhổ vào mồm cho tôi. Bà bảo:” Khổ thân con bé sinh ra đã bị khuyết tật không cử động nổi cơ thể rồi giờ lại gặp trận lả này không biết có sống nổi không?”. Và bà lại chắp tay cầu khấn ông trời phù hộ cho tôi. Trước đây mẹ tôi không thích có mặt tôi trên cõi đời này lên mỗi khi tôi bị ốm là chỉ mình bà trông nom trăm sóc và thuốc men cho tôi thôi nên sau khi bà trăm tuổi qua đời tôi như người mất hồn vì thiếu hơi ấm tình thương của bà dành cho tôi.
Tôi còn nhớ những ngày đầu vắng bà, tôi như kẻ điên dại nhưng rồi thời gian dần dần trôi đi, tôi cũng đã cạn nước mắt khóc thương bà. Bà đã ra đi được ba năm rồi vậy mà cứ mỗi lần nghe thấy tiếng rao” Ai bánh bao đây” là mái tóc bạc, cái lưng còng,hàm lợi rụng hết răng của bà lại ùa về trong tôi; gõ vào trái tim
tôi những tình cảm xốn xang nhớ bà.

Ngọc Hoa

Thứ Hai, ngày 14 tháng 4 năm 2014

Nữ phi công trẻ nhất Việt Nam kể về việc chọn nghề

 
Tốt nghiệp THPT, Kim Châu không theo lối mòn vào đại học mà nhịn ăn để quyết xin ba mẹ cho thi vào hàng không làm phi công. 

Vietnam Airlines hiện có gần 1.000 phi công, trong đó có 13 phi công nữ (6 người nước ngoài, 7 người Việt Nam). Ở tuổi 25, Nguyễn Kim Châu hiện là nữ phi công Việt Nam trẻ nhất.

Sinh ra trong một gia đình không liên quan đến ngành hàng không, nhà có ba chị em gái, Châu là chị cả. Em gái kế kém Châu 3 tuổi, hiện học thạc sĩ ở Mỹ, còn em gái út năm nay mới 8 tuổi. Vì thế Kim Châu luôn cố gắng phải làm gương cho các em.

Một ngày đẹp trời cô dõng dạc nói: "Ba mẹ à, con muốn đi theo con đường riêng của con, sự lựa chọn của con. Con không muốn theo lối mòn, lối mà mọi người vẫn hay làm: học phổ thông trung học xong thi lên đại học. Năm nay tốt nghiệp phổ thông xong con muốn thi vào hàng không".

Thấy ba hỏi: "Con định làm nữ tiếp viên ư?", Châu mỉm cười: "Dạ, không đâu ba, con muốn làm phi công". "Ui! Trời! con bé này, hết ngành chọn rồi sao con? Sao chọn ngành không hợp với nữ giới gì hết cả. Nghề đấy dành cho con trai thôi, vất vả lắm, con gái của ba đã nghĩ kỹ chưa?". Châu năn nỉ: "Ba mẹ ơi, ủng hộ con đi mà, đấy là ước mơ, tâm nguyện của con". Ba Châu bảo: "Thôi được, để ba mẹ nghĩ đã".

8-phi1351-450-5191-1397268010.jpg
Nữ cơ phó Airbus 330 Nguyễn Kim Châu. Ảnh: ANTG.

Những ngày ba còn lưỡng lự chọn ngành nghề của con gái thì Kim Châu nghĩ ra "kế sách" dằn dỗi ba mẹ một tí, cô quyết định tuyệt thực. Ba Châu nói chuyện với mấy người bạn về ước muốn kỳ lạ của con gái. Nghe xong mọi người bảo: "Nghề đấy, đàn ông theo còn khó nữa là, con gái ông mà làm được thì quá tốt chứ còn gì".

Một buổi, ông bảo với con gái: "Con muốn làm phi công phải ăn cho thật khỏe vào, không ăn là không lái máy bay được đâu…". Châu reo lên: "Ui! Ba mẹ đồng ý rồi nhé". Thế là, một thời gian biểu được thiết lập. 

Trong khi các bạn cùng tuổi mải mê đèn sách ôn thi vào đại học hay các trường cao đẳng, Châu cặm cụi học ngoại ngữ, rèn luyện thể lực bằng cách đi bộ, chạy bộ, bơi, chơi cầu lông, bóng chuyền... Mọi người thấy lạ, kỳ thi đại học đến nơi rồi, sao chỉ thấy Châu suốt ngày tập luyện chơi thể thao.

Tiêu chuẩn để chọn vào ngành hàng không là nữ cao 1,6 m trở lên, nam 1,65 m trở lên. Còn Châu cao 1,65 m, nặng 55 kg, khuôn mặt tươi tắn, ưa nhìn, vóc dáng cao ráo khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Bài thi ngoại ngữ Châu làm rất tốt nhưng điều khiến cô lo lắng là thị lực chỉ 9/10, dù nhiều lần đi khám mắt kết quả đều 10/10. Phấp phỏng, lo lắng, hồi hộp, chờ đợi, Rồi, như một giấc mơ - Châu trúng tuyển.

Lớp học phi công được chia ra làm hai, lớp A và lớp B. Nhờ điểm tiếng Anh cao trên 400, Châu học lớp A cùng 29 bạn khác, những học viên dưới 400 điểm tiếng Anh học lớp còn lại. Để có được bằng lái điều khiển máy bay, học viên phải đi học ở Australia hoặc Pháp, trải qua những giờ thực hành gắt gao... 

Nhưng không phải ai đỗ đều được đi du học mà họ phải được các chuyên gia nước ngoài tuyển chọn. Sau khi học ở trong nước một năm, Châu được chọn đi đào tạo phi công ở Pháp năm 2009.

Cô ở trong ký túc xá của nhà trường, căn phòng rộng 20 m2 có bếp, giường ngủ, công trình phụ khép kín. Lớp học chỉ có một thầy và một trò, với 14 môn như khí tượng thời tiết, động lực học, cơ khí học, cách điều khiển máy bay, yếu tố con người, môn tâm lý học... Sau khoảng 6 - 9 tháng học lý thuyết là đến bài tập thực hành.

Châu vẫn còn nhớ mãi ngày đầu tiên trên học cất cánh và hạ cánh trên chiếc máy bay nhỏ chỉ có thầy và hai trò. Khi máy bay ở trên không trung, thầy bảo: "Lấy độ cao 1.000 m, thấp xuống 300 m, cao lên 300 m, vòng trái 30 độ, vòng phải 30 độ...".

Bài học vỡ lòng ấy, Châu không bao giờ quên, nó như kỷ niệm đẹp đầy mơ mộng, ngọt ngào với một cô gái trẻ thanh tân tràn đầy sinh khí, dạt dào nội lực. Mỗi lần thực hành bay trên không trung bình từ 2-3 tiếng. Nghề nào cũng có những rủi ro, nhưng hàng không lại là nghề nếu có rủi ro thì tai nạn thật thảm khốc.

Đã có học viên Việt Nam được chọn sang Pháp học, trong giờ tập thực hành bay, không kiểm soát được và máy bay đâm vào núi. Có những học viên khi thực hành bay lại không thể một mình cất cánh được. Không ít người sau khi được tuyển chọn đi học ở Pháp bị trả về nước vì không thể tự mình cầm lái, điều khiển máy bay. Lại có những học viên học mãi mà vẫn chưa được cấp bằng bay.

Bay đơn là giờ học bắt buộc cho mỗi học viên. Khi đó chỉ có một mình học viên trên máy bay tự mình điều khiển. Châu phấp phỏng lo lắng, không hiểu mình bay có tốt không? Mình có bay đơn được không, khi ở trên máy bay một mình có thể xử lý tình huống được không? Bao nhiêu câu hỏi quay cuồng trong đầu. Châu bảo: "Tai nạn máy bay 70% là lỗi con người, 30% là lỗi thời tiết và kỹ thuật máy bay".

Nói về những buổi học bay đơn, Châu bảo: "Khi ở trong buồng lái, khi ở trên cao có thể quên hết mọi thứ từ những niềm vui nho nhỏ, những trạng thái cảm xúc dạt dào ở dưới mặt đất... để chỉ biết rằng mình đang điều khiển, đang bay như một cánh én nhỏ trong bầu trời bao la và vô tận. Ở đây, mình có thể làm những điều mà các bạn không thể làm, sẽ thấy những điều mà các bạn không thể thấy".

"Chinh phục và thưởng thức là những gì tôi đang có. Nếu như với một vận động viên chạy bộ hoặc đua môtô, họ thi tốc độ ở con đường dưới mặt đất, với một vận động viên bơi lội đua vận tốc với nước, còn đây, Châu đua tốc độ, làm bạn với mây, với gió, với bầu khí quyển và xung quanh là vô số các vì tinh tú", cô kể tiếp.

9-truoc1351-450-5981-1397268010.jpg
Kim Châu và đồng nghiệp trước giờ bay. Ảnh: ANTG.

Cuối năm 2010, kết thúc khóa đào tạo phi công ở Pháp trong 1 năm 8 tháng, Châu về nước và bắt đầu công việc là nữ lái phụ cho ATR72 - sức chứa 72 hành khách, bay chặng ngắn và chỉ có 1 lái chính, 1 lái phụ.

Tháng 9/2013, Châu được điều động làm cơ phó Airbus 330 có sức chứa 250 hành khách và có thời gian bay 8-10 tiếng... điểm đến Nhật, Nga, Australia, Hàn Quốc. Airbus 330 có 2 lái chính và 2 lái phụ.
Lịch làm việc của Châu khá kín, bay 6 ngày, nghỉ 1 ngày. Bay 7 ngày được nghỉ 2 ngày. Sau khi hạ cánh máy bay an toàn, nếu không phải là giữa đêm hoặc tờ mờ sáng, Châu lại cùng em gái đi ăn kem, ăn chè ở một quán nhỏ nào đó, ở nhà thưởng thức những bản nhạc jazz, pop, xem những bộ phim tâm lý hoặc hành động của Mỹ.

(Theo An ninh thế giới, 4/2014)



Tác giả 'Hiểu về trái tim' kể về hành trình 'tu bụi'


Trong vòng 3 năm, thiền sư Minh Niệm đi qua 25 tiểu bang của Mỹ, sống với những nghịch cảnh, thử thách khắc nghiệt, và đã 6 lần chết hụt trên hành trình.

Năm 2011, tác phẩm Hiểu về trái tim trình làng, lập tức được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận là Cuốn sách có số lượng in lần đầu lớn nhất, với 100.000 bản. Tên sách sau đó được chọn làm tên quỹ từ thiện Hiểu về trái tim với sự tham gia của đông đảo nghệ sĩ Việt. Tác giả Minh Niệm cho biết, khi sách ra đời, ông nhận được nhiều tình cảm của độc giả. Đó là lý do khiến ông thực hiện hành trình trải nghiệm "tu bụi" trên đất Mỹ. Trong tháng 7 tới, ông sẽ ra mắt một tập sách thiền nhằm biến đổi cảm giác tiêu cực của con người.

body-Hieu-ve-Trai-tim-5082-1397204698.jp
Sách Hiểu về trái tim dạy kỹ năng sống được đông đảo độc giả yêu thích.

Trong hành trình của mình, thiền sư Minh Niệm đã sống ở gầm cầu, lề đường giống như những người đi bụi. Ông cũng dành một khoảng thời gian để làm việc tại các nông trại của người Mỹ. Thiền sư kể: "Tại đây, giống như các tình nguyện viên khác, mỗi ngày tôi làm việc từ bốn đến năm tiếng để được chủ nông trại cho đồ ăn, chỗ ngủ. Đã có lúc tôi muốn bỏ cuộc ngay từ tháng đầu tiên vì không lường được khó khăn mình sẽ gặp phải. Tôi phải đi nhờ xe, thậm chí không ít lần bị chà đạp, đối xử tệ bạc... Nhưng nhờ có ý chí, cuối cùng tôi đã vượt qua được. Từ chuyến đi này, tôi thấy hiểu bản thân hơn cũng như thay đổi được những thói quen những tưởng không thay đổi được. Cũng từ chuyến đi, tôi yêu thiên nhiên nhiều hơn, thấy có sự liên lạc chặt chẽ giữa mình và trời đất". 

Tác giả của Hiểu về trái tim cho biết trong tháng 7 năm nay ông sẽ cho xuất bản cuốn sách thứ hai Nhìn vào Bên Trong - Bất động trước mọi biến động. Sách được xem như là sự tiếp nối của Hiểu về trái tim, trong đó trình bày 100 bước thiền để chuyển hóa, biến đổi những trạng thái, cảm xúc tiêu cực của con người. 

Ngoài cuốn sách, thiền sư Minh Niệm cũng có kế hoạch viết các tác phẩm về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái (Dìu con vào đời) và sách về mối quan hệ vợ chồng (Sánh bước bên đời). 

body-Minh-Niem-1559-1397204699.jpg
Tác giả, thiền sư Minh Niệm.

Trong những ngày lưu lại Việt Nam, thiền sư Minh Niệm tham gia một số chương trình như giao lưu và chia sẻ trải nghiệm cuộc sống với sinh viên học sinh và các bạn trẻ tại Nhà văn hóa Thanh niên (TP HCM) vào ngày 19/4, hưởng ứng sự kiện Ngày Sách Việt Nam. Sau đó, ngày 4/5, tác giả sẽ cùng các nghệ sĩ tham gia chương trình Hạt giống tâm hồn đi thăm, tặng sách và nói chuyện với các phạm nhân theo lời mời của Ban giám thị trại giam Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu). 

Lam Thu

(Nguồn: Vnexpress, 4/2014)



Người thầy đặt nền móng cho nền tân học


ĐẠO LÀM THẦY

Trần Quý Cáp (1870-1908) là nhà hoạt động yêu nước trong phong trào Duy Tân nổi lên đầu thế kỷ XX. Nhưng có lẽ trước hết ông là nhà giáo, nhà hoạt động giáo dục tâm huyết với nhiều đóng góp lớn trong việc thúc đẩy hình thành nền tân học buổi đầu của đất nước.

Trần Quý Cáp sinh tại thôn Thai La, làng Bất Nhị, phủ Điện Bàn (nay là huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Thuở còn bé, Trần Quý Cáp có tên là Trần Nghị, nổi tiếng thông minh, học giỏi. Đốc học Quảng Nam lúc ấy là nhà giáo tiến sĩ Trần Đình Phong biết rõ tài học của Trần Nghị nên năm 1895 nhận ông vào học sinh Trường Tỉnh (đi học được ăn lương) và cho đổi tên thành Trần Quý Cáp.

Mặc dù nổi tiếng uyên bác nhưng có lẽ vì tính ưa hoạt động, thử thách nên cuộc đời ông phần lớn gặp nghịch cảnh, sóng gió, kể cả chuyện học hành cũng gặp nhiều lận đận.

“Dạy người không chán mỏi”

Đọc lịch sử, chúng ta biết có những trường hợp oái oăm thầy trò cùng đi thi nhưng trò đỗ thầy rớt, trường hợp ấy đã vận vào Trần Quý Cáp. Tài liệu cũ ghi mãi đến năm 1898, sau thi hương ông mới chỉ đỗ tú tài. Cũng năm ấy, thân phụ lâm bệnh nặng rồi mất. Trần Quý Cáp phải về nhà cư tang, chăm sóc mẹ già và mở trường dạy học. Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, người bạn đồng môn, nhớ lại:”Dạy học ba năm ở nhà, mọi nơi nghe tiếng, đến học rất đông. Tiên sinh tùy người dạy dỗ. Tình thầy trò như cha con, trìu mến nồng nàn, không những trong châu quận, cho đến trong miền Cù Mông, Đại Lãnh trở vào Nam không biết bao nhiêu nhân sĩ đến thụ giáo đều nhờ ơn trạch Tiên sinh. “Dạy người không chán mỏi”, có lẽ duy Tiên sinh mới đúng tinh thần ấy.

Năm 1903, triều đình Huế mở kỳ thi hương. Sau nhiều năm bỏ lỡ hội công danh, thầy giáo Trần Quý Cáp cùng với học trò của mình là Phạm Bá Cảnh ra Huế dự thi. Nhưng năm đó ông vẫn không đỗ, trong khi học trò lại chiếm bảng dễ dàng. Thời vận chỉ đến vào năm sau khi Trần Quý Cáp đăng ký thi hội (hồi trước có quy định học trò thi hương ba lần đỗ tú tài được đặc cách thi hội) và quả nhiên ở kỳ thi này tài năng của ông mới được bộc lộ. Trần Quý Cáp đỗ đệ nhất tiến sĩ. Ngày vinh quy bái tổ, Trần Quý Cáp đã làm chuyện khác thường so với quy định hồi ấy. Đi bái yết tạ ơn thầy học trước rồi mới đến chào quan công sứ sau. Thái độ tôn sư khẳng định nhân cách thẳng thắn của ông, không khuất phục trước sức mạnh của kẻ cầm quyền. Chỉ là một câu chuyện nhỏ nhưng sức lan tỏa của nó đã cổ vũ tinh thần yêu nước của giới sĩ phu lúc bấy giờ.

Chấn động trường thi Bình Định

Năm 1905, có một sự kiện xảy ra ở trường thi Bình Định gây chấn động trong giới sĩ phu cả nước. Đó là việc ba nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng trên đường Nam du qua Bình Định thì gặp kỳ khảo hạch do quan tỉnh tổ chức. Đề khảo hạch gồm bài thi “Chí thành thông thánh” yêu cầu người dự thi trình bày tấm lòng mình đối với cái đạo “Thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của nền nho giáo cũ và một bài phú “Danh sơn lương ngọc” yêu cầu người dự thi bình về chủ đề “Núi có danh không hẳn là núi cao mà là núi sản sinh ra được ngọc tốt”. Ngọc tốt là hình ảnh của anh hùng, hào kiệt. Nghĩ đây là dịp tốt để phê phán lối học và thi cử nặng tầm chương trình cú lõi thời của nền cựu học, ba ông rủ nhau cùng dự thi. Cả hai bài thi và phú đều ký tên là Đào Mộng Giác (anh chàng họ Đào đã tỉnh mộng).

Bài phú “Lương sơn danh ngọc” viết bằng chữ Hán do Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng làm, sau này được Tuần báo Tân Dân dịch đăng (năm 1940) có những câu sau thể hiện nội dung phê phán nền cựu học xa rời thực tế: “Đau đớn nỗi nhà nho hủ bại/Tục di truyền cái hại khoa danh/ Mấy vần thơ phú loanh quanh/ Suốt năm suốt tháng tranh giành từ chương” . Đồng thời thức tỉnh mọi người trước cuộc sống lầm than của người dân, tình cảnh nước nhà lạc hậu dưới ách đô hộ của giặc Pháp: “Điều trông thấy đắng cay khôn xiết/ Lại một ngày một xiết ruột da/ Tính trong cái thuế dân nhà/ Thôi đà hết sạch rồi ra còn gì!...”. Trần Quý Cáp kêu gọi từ nay đoạn tuyệt với cổ học: “Một lời như khóc, như than/ Thôi còn Lương ngọc, Danh sơn làm gì?”

Quan đầu tỉnh BÌNH ĐỊNH tức tối vì có kẻ dám nhạo báng nền giáo dục tồn tại cả ngàn năm nay nhưng không thể làm gì được ba nhà chí sĩ.

Cổ súy tân học

Tuy vậy, sự kiện trên cũng bay tới Triều đình Huế. Để dễ bề quản lý và sai khiến Trần Quý Cáp, năm 1906, Triều đình Huế bổ ông làm Giáo thụ ở Thăng Bình. Tài liệu cũ chép với nhiệm vụ được giao, ông đã biến ngôi trường của Giáo phủ Thăng Bình của chính quyền theo lối học cũ thành ngôi trường theo lối học mới, tiến bộ. Trường dạy chữ quốc ngữ, chữ Tây, các môn khoa học, thủ công, thể dục, võ thuật. Nội dung giảng dạy không chỉ chú trọng thực dụng mà qua đó trang bị cho người học cái chí khí của người Việt Nam. Nhà giáo Trần Quý Cáp còn tổ chức diễn thuyết, đặt thơ ca hò vè cổ động cho tân học. Hàng ngũ thân hào nhân sĩ trong vùng hưởng ứng mạnh mẽ, tự nguyện góp công, góp của dựng lên ngôi trường mới. Chỉ không đầy sáu tháng, gần 40 trường tân học đã mọc lên.

Và một lần nữa, hoạt động cổ súy tân học của Trần Quý Cáp trên đất Quảng Nam đã không được lòng các quan thầy thực dân và Triều đình Huế. Vào đầu tháng 2 năm 1908, chính quyền chuyển nhà giáo Trần Quý Cáp vào làm giáo thụ huyện Tân Định, tỉnh Khánh Hòa những mong cô lập ông. Nhưng cũng không xong, vào Khánh Hòa, Trần Quý Cáp tiếp tục thực hiện chương trình đổi mới giáo dục theo tân học.

Tháng 3 năm 1908, phong trào chống thuế bùng nổ ở Quảng Nam và lan ra một số tỉnh khác ở Trung Kỳ. Lấy cớ nhà giáo Trần Quý Cáp là người châm ngòi cho phong trào này dù chẳng có bằng chứng nào, tảng sáng ngày 5 tháng 5 năm 1908, chính quyền thực dân tổ chức hành quyết ông ở chợ Diên Khánh.

Quang Ân



Chủ Nhật, ngày 13 tháng 4 năm 2014

Thủ tướng phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực đến năm 2020


Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 579/QĐ-TTg, ngày 19/4/2011, phê duyệt Chiến lược Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 với mục tiêu đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội.

Phấn đấu đến năm 2020 đạt được một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nguồn nhân lực là: Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề là 55%; Số sinh viên đại học - cao đẳng là 400 sinh viên/10.000 dân; Có hơn 10 trường dạy nghề và trên 04 trường đại học đạt đẳng cấp quốc tế.

Về chỉ tiêu nâng cao thể lực nhân lực, phấn đấu tuổi thọ trung bình của lao động là 75 tuổi, chiều cao trung bình của thanh niên là 1,65m, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi nhỏ hơn 5%.

Với quan điểm chỉ đạo phát huy vai trò quyết định của yếu tố con người, phát triển nhân lực là khâu đột phá để thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; phát triển nhân lực toàn diện về thể lực, tri thức, kỹ năng, hành vi và ý thức chính trị, xã hội tuy nhiên vẫn cần phải có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng phát triển nhân tài, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành cần phải chú trọng đến các giải pháp thiết thực để phát triển nhân lực, đào tạo nhân lực phải gắn với nhu cầu xã hội, nhu cầu của thị trường lao động; sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực phải dựa vào năng lực và kết quả, hiệu quả công việc; khắc phục tâm lý và hiện tượng quá coi trọng, đề cao “bằng cấp” một cách hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực….

Thủ tướng Chính phủ cũng giao các bộ, ngành, các địa phương và đơn vị, tổ chức xây dựng quy hoạch, đề án phát triển nhân lực thuộc phạm vi quản lý; lồng ghép các mục tiêu, quan điểm và giải pháp phát triển của Chiến lược vào quy hoạch, chương trình và đề án phát triển nhân lực của ngành, địa phương, đơn vị, tổ chức.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Thành Công



Nữ sinh được nhận vào 9 đại học lớn ở Mỹ


Nhiều đại học hàng đầu của Mỹ như ĐH Duke, Brown... cấp cho nữ sinh chuyên Anh Hà Nội - Amsterdam mức học bổng hơn 230.000 USD trong 4 năm.

Là học sinh chuyên Anh THPT Hà Nội - Amsterdam, Nguyễn Thị Cẩm Hà giành được nhiều thành tích như đoạt giải ba kỳ thi học sinh giỏi tiếng Anh Quốc gia lớp 12, nhận học bổng danh dự của trường suốt 5 học kỳ. Dù được tuyển thẳng vào đại học, song Hà vẫn mong ước được du học.

"Em chọn Mỹ vì đây là nơi có môi trường học tập tiên tiến với cơ sở vật chất hiện đại cho sinh viên làm nghiên cứu. Quan trọng hơn, đại học là quãng thời gian để khám phá bản thân nên môi trường học tập cởi mở sẽ giúp em kết hợp hài hòa cả việc học và tham gia các hoạt động ngoại khóa có ý nghĩa cho cộng đồng", Hà tâm sự.

Bắt đầu nộp hồ sơ từ đầu năm 2013 rồi chờ đợt suốt thời gian dài, Cẩm Hà bất ngờ khi được nhận vào 9 trường lớn ở Mỹ như ĐH Duke (xếp thứ 7), ĐH Brown (xếp thứ 14), ĐH Wellesley... và được cấp mức học bổng hơn 230.000 USD. 


Nguyễn Thị Cẩm Hà được 9 đại học của Mỹ tiếp nhận. Ảnh: Cao Nhật.

Hà cho rằng mình gặp may mắn nhiều hơn là có bí quyết. Trong hồ sơ gửi đi, cô thể hiện được tính nhất quán, có nhiều hoạt động liên quan đến lãnh đạo, giáo dục, âm nhạc, thể hiện được những đam mê theo đuổi trong thời gian dài. Bên cạnh đó, Hà cũng chịu khó nói chuyện với các anh chị để tìm hiểu kỹ về trường và những lĩnh vực học tập, ngoại khóa mà mình quan tâm rồi đưa vào bài luận.

"Nếu có một lời khuyên cho các bạn thì đó là hãy kiên trì", Hà nói. Trong đợt đầu (chỉ được nộp đơn vào một trường), Hà đã nộp hồ sơ vào ĐH Brown và bị trường "deferred" (dời hồ sơ đến đợt sau) - nghĩa là 90% hồ sơ đã bị loại. Nhưng cô không bỏ cuộc mà gửi thêm clip đánh đàn, bảng cập nhật thành tích học tập và hoạt động ngoại khóa và viết thư bày tỏ sự quan tâm của mình về trường. Ngày 27/3, Hà nhận được thư chấp nhận của Brown - một trong những ngôi trường cô mong ước nhất.

Hà tâm sự, chọn trường là chuyện căng thẳng vì nó không chỉ phụ thuộc vào khả năng của bản thân, tài chính của gia đình, mà còn xem mình đang phải cạnh tranh với những bạn nào. Cô chọn chủ yếu những trường mạnh về ngành nghề mình đang quan tâm như giáo dục học, chính sách công và hào phóng với sinh viên quốc tế, có địa điểm khí hậu tốt, đảm bảo các cơ hội thực tập và nghiên cứu.

Trong suốt thời gian làm hồ sơ, khó khăn nhất với Hà là phần viết luận. Với bài luận chính, Hà thử đủ các ý tưởng và viết gần 30 bản nháp khác nhau. Cuối cùng ý tưởng cô chọn là câu chuyện khá đơn giản từ chính những trải nghiệm mùa hè năm lớp 11.

Đó là trải nghiệm của bản thân tại trung tâm cho trẻ em đường phố. Bình thường, mọi người thường nghĩ về các em theo cách gọi “những trẻ em nghèo”. Trước khi Hà đến tình nguyện ở đây, cô cũng có cách nhìn đơn giản như thế, nhưng rồi dần nhận ra các em ở đây phải đối mặt với nhiều vấn đề khác.

​Khi theo bố mẹ ra thành phố, nhiều gia đình không có hộ khẩu và các em không thể theo học những trường công, chỉ có lựa chọn là học những trường dân lập hoặc bỏ học. Bài luận của Hà trình bày góc nhìn của cô về giáo dục dựa trên kinh nghiệm của bản thân, trải nghiệm ở trung tâm và qua sự tiếp xúc với những đứa trẻ ở các môi trường khác nhau.

"Em còn một bài luận viết về ngôi nhà gỗ cổ của gia đình em ở quê. Bài luận bắt đầu từ những cảm xúc của em khi lần đầu tiên bước vào ngôi nhà, những giá trị lịch sử và văn hóa mà nó gợi mở ra, sau đó chia sẻ những phát hiện về thời kỳ này", nữ sinh chuyên Anh nói.

Tuy nhiên, trong số 9 trường tiếp nhận, Cẩm Hà chọn ĐH Duke. Cô dự định chọn ngành Giáo dục học vì mong muốn làm những công việc có liên quan đến giáo dục. 3 năm cấp III, Cẩm Hà cũng có kinh nghiệm vừa làm gia sư cho 4 học sinh cấp II, vừa làm tình nguyện ở một số trại trẻ.

"Em muốn tiếp tục làm những công việc này, ở mức độ cao hơn và có tầm ảnh hưởng lớn hơn, sau khi trở về Việt Nam", Cẩm Hà nói thêm.

Hoạt động ngoại khóa nổi bật của Cẩm Hà:

- Dạy học tại các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi, có hoàn cảnh khó khăn.
- Phó chủ tịch CLB Sách THPT Hà Nội - Amsterdam, tổ chức chia sẻ và thảo luận và sách cho các bạn trong trường cũng như trao đổi sách cho học sinh Hà Nội.
- Tham gia tổ chức chương trình Hanoi MUN 2013 - hoạt động mô phỏng buổi họp của Liên hợp quốc.
- Cựu quản lý Câu lạc bộ Ams Advisor quan tâm đến các hoạt động hướng nghiệp và định hướng hoạt động ngoại khóa cho các học sinh trong trường.
- Thành viên sáng lập của Ams Connect, tổ chức liên kết các thế hệ học sinh của trường Hà Nội – Amsterdam, từ những khóa đầu tiên 83-85 đến nay.

Hoàng Thùy



Thông tin từ ISSTH

Thông tin tổng hợp

Kho số liệu của ISSTH

Diễn đàn trí thức

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Đào tạo

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn