25-11-2014

Những bí mật về dinh thự 150 tỷ của vua Mèo


Dinh thự có tuổi đời gần 100 năm, từng được vua Mèo Vương Chính Đức thuê thợ giỏi từ Trung Quốc sang thiết kế phối hợp cùng hàng vạn nhân công xây dựng trong 9 năm với số tiền 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương của Pháp, tương đương với 150 tỷ đồng tiền Việt Nam lúc bấy giờ.

Lối dẫn vào dinh thự vua Mèo Vương Chính Đức là hai hàng sa mộc đứng uy nghiêm, rắn chắc như những người lính gác bảo vệ sự an toàn cho vua.

 Lối vào Dinh họ Vương.

Vương Chính Đức (1865-1947) là người duy nhất được đồng bào người Mông nơi đây suy tôn là vua Mèo và chính thức cai quản 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn.

Toàn bộ dinh thự vua Mèo có diện tích gần 3000m2, bắt đầu được xây dựng vào năm 1919, hoàn thành vào năm 1928.

Dinh họ Vương có diện tích gần 3000m2 nằm giữa thung lũng Sà Phìn. Ảnh: Vân Ảnh.

Trước khi bắt tay vào xây dựng dinh thự đồ sộ này, cụ Vương Chính Đức sang Trung Quốc nhờ thầy phong thủy sang Việt Nam đi qua khu vực 4 huyện cụ đang cai quản để chọn địa thế đất. Cuối cùng, cụ Đức và thầy quyết định dừng chân tại thôn Sà Phìn. Lúc đó, thầy phong thủy nhắn nhủ với vua Mèo rằng đây là địa thế đất nằm giữa thung lũng Sà Phìn. Ở đây có một khối đất nổi lên cao như hình mui con rùa, tượng trưng cho thần kim quy. Nếu xây dựng dinh thự tại đây thì sự nghiệp của cụ Vương Chính Đức sẽ thành về sau.

Thời điểm xây dựng dinh thự, nơi đây chưa hề có máy móc, đường sá thì hiểm trở vô cùng. Do đó, dinh thực hoàn toàn do sức lực đồng bào người Mông ở đây làm thủ công. Tất cả các vật liệu đá của dinh thự do chính người dân nơi đây đục đẽo bằng tay rồi vận chuyển những tảng đá cách thôn Sà Phìn 7km để xây nhà.

Số tiền cụ Vương Chính Đức thuê nhà thiết kế về đây mất rất nhiều, 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương của Pháp, tương đương với 150 tỷ đồng tiền Việt Nam lúc bấy giờ.

Bao quanh phía trước dinh thự là một dãy núi hình vòng cung. Ảnh: Vân Ảnh.

Bao quanh khu dinh thự là một dải núi cao, tạo nên địa thế hình vòng cung ôm lấy toàn bộ ngôi nhà. Một địa thế phòng thủ rất tuyệt vời. Những năm Pháp bắt đầu xâm chiếm đất Đồng Văn, ở trên các đỉnh núi này, Cụ Đức cũng cho xây dựng lô cốt có lính canh bảo vệ, mục đích chính là để bảo vệ nhà của cụ. Rất may thời đó, người Pháp cũng chưa bao giờ xâm nhập tới đây mà chỉ mới chiếm khu Đồng Văn, Quản Bạ.

Dinh thự chỉ ảnh hưởng bởi chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979.Trung Quốc đã bắn pháo từ phía sau vào dinh thự. Tuy nhiên, phía sau dinh thự có một quả núi rất cao do đó nếu Trung Quốc bắn cao hơn, pháo sẽ tiến xa phía trước, bắn thấp xuống thì bị vướng ở phía sau núi.

Chính vì thế mà dù Trung Quốc bắn cháy cả ngọn núi phía sau nhưng tòa dinh thự không bị ảnh hưởng. Nhận thấy đây là một địa điểm phòng thủ an toàn, bộ đội ta cũng chính thức đóng quân tại ngôi nhà sau đó. Tuy nhiên, sau chiến tranh 1979, tất cả đồ dùng trong gia đình họ Vương đã bị thất lạc, hư hỏng.

Nơi thờ cúng tổ tiên của dòng họ Vương. Ảnh: Vân Ảnh.

Khu vực Trung Cung. Ảnh: Vân Ảnh.

Dinh thự vua Mèo có ảnh hưởng kiến trúc của 3 nền văn hóa: Trung Quốc, người Mông và Pháp.Toàn dinh thự có 3 cung Tiền, Trung, Hậu với 64 phòng dành cho 100 người ở.

Khu Tiền cung là nơi ở của lính bảo vệ, gia nhân. Trung cung và Hậu cung là nơi ở, làm việc của con cháu dòng họ Vương. Toàn bộ gỗ của ngôi nhà trước đây đều được làm từ gỗ thông đá. Kể từ khi trở thành tài sản của Nhà nước, tất cả các vật liệu gỗ của ngôi nhà đã bị thay đổi khoảng 60% bằng gỗ lim và gỗ nghiến.

Chân cột đá được mài bằng 900 đồng bạc trắng Đông Dương. Ảnh: Vân Ảnh.

Khi quan sát, thấy hai viên đá ở khu tiền có độ bóng nhất định, đó là do đồng bạc trắng Đông Dương mài vào đá mà thành. Để đánh được một chân cột đá như thế, cụ Vương Chính Đức đã phải bỏ ra 900 đồng bạc trắng Đông Dương, tương đương với 1 tỷ đồng tiền Việt Nam. Đó chỉ mới là tiền đánh bóng, chưa kể tiền đục đẽo, vận chuyển hai chân cột đá từ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) về Đồng Văn.

Sàn gỗ tại gian nhà này là nơi xét xử của vua Mèo. Ảnh: Vân Ảnh.

Ở giữa khu Tiền và Trung có một sàn gỗ, chính là khu vực xét xử của cụ Đức. Hồi đó, mỗi lần lên triều, cụ Đức sẽ mặc mũ áo xử án như quan bao công, lúc bấy giờ là quan chi huyện, ngồi ở giữa sàn, có bàn ghế xử án còn kẻ phạm tội sẽ phải quỳ ở dưới sân.

Vua Mèo Vương Chính Đức.

Cụ Vương Chính Đức cùng con cháu trong dòng họ và lính bảo vệ.

 
Vương Chí Sình (1886 - 1962) được xã hội nhắc tới nhiều hơn, con thứ hai của Vương Chính Đức, là người con chính thức theo cách mạng, cũng là người anh em kết nghĩa với bác Hồ. Ông từng tham gia Đại biểu Quốc Hội khóa I và II.

Khu Trung cung còn lưu giữ rất nhiều bức ảnh của gia tộc họ Vương, cũng là nơi thờ cúng tổ tiên. Cụ Vương Chính Đức từng có 3 bà vợ nhưng trong những bức ảnh chỉ có bà cả và bà ba, bà vợ hai không có mặt trong bức ảnh gia tộc họ Vương vì không sinh được con trai nên không được gia đình nhắc đến trong dòng họ.

Người vợ thứ nhất của cụ Đức sinh được hai người con trai là Vương Chính Tinh và Vương Chính Sình. Bà vợ ba có con trai là Vương Chính Trư.

Phòng làm việc và tiếp khách của vua Mèo. Ảnh: Vân Ảnh.

Tầng 2 khu Hậu cung là phòng ở của cụ Đức, phía đối diện là phòng ở của con trai Vương Chính Sình. Kèm theo hai góc trong cùng là hai lô cốt, được xây ở vị trí cao nhất của tòa nhà dành cho lính canh gác bảo vệ ở hai bên.

Kho thuốc phiện dinh họ Vương. Ảnh: Vân Ảnh.

Bộ đồ dùng hút thuốc phiện của Vua Mèo Vương Chính Đức và con trai Vương Chính Sình. Ảnh: Vân Ảnh.

Ảnh: Vân Ảnh.

Ảnh: Vân Ảnh.

Cần bàn thuốc phiện.

Nồi nấu thuốc phiện.

Hai kho ở dưới tầng là hai kho cất giữ tài sản gồm thuốc phiện, vàng bạc. Vương Chính Sình giao cho bà cả trông giữ kho thuốc phiện, bà hai trông giữ kho tiền, bà ba quản lý chi tiêu cũng như xuất kho bán ra nước ngoài do bà ba quản lý.

Trong năm bà vợ, Vương Chính Sình quý nhất bà ba, đó cũng là người phụ nữ được đồng bào Mông nhắc tới nhiều nhất khi thâu tóm tất cả quyền lực tại Đồng Văn, kiêm thư ký cho Vương Chính Sình, phiên dịch tiếng Trung, tiếng Pháp. Bà vợ này có bố là người Quảng Đông (Trung Quốc), mẹ là người Hà Đông, Hà Nội. Một người vợ rất giỏi. Bà ba được Vương Chính Sình tặng hẳn một dinh thự để sống và làm việc tại thị trấn Phó Bản. Ngôi nhà được xây dựng theo kiến trúc của Nhật, nhỏ hơn khu này một chút. Tuy nhiên, dinh thự thứ 2 của dòng họ Vương đến thời điểm hiện tại không còn nữa do bị Trung Quốc bắn phá tan tành vào năm 1979.

Hiện, dinh thự vua Mèo về cơ bản vẫn giữ được nét những nét xưa cũ, chỉ có điều hệ thống sàn nhà gỗ đã bị cạy phá, chỉ còn trơ nền đất do thời điểm chiến tranh, nhà cụ Đức bị nghi chôn cất tài sản dưới nền nhà.

Khu dinh thự này được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia năm 1993. Năm 2004, gia đình họ Vương quyết định cống hiến dinh thự này cho Nhà nước bảo tồn. Dinh họ Vương trở thành địa điểm tham quan cho khách du lịch kể từ thời điểm đó. Người bán vé, kiêm đảm nhận vai trò giới thiệu về dinh thự cho du khách là một người cháu gái họ xa của vua Mèo tên là Vương Thị Chở. Toàn bộ con cháu nhà họ Vương chuyển ra sống tại dãy nhà mới xây trước cổng chợ. Đây là chi con cháu thứ 3, tức là chi của bà vợ ba, là chi duy nhất nhà họ Vương sống tại đây. Còn hai nhánh của bà cả có một nhánh sống ở Canada, Mỹ, một nhánh sống ở Hà Nội, Sài Gòn.

Đứng ở trên đỉnh đèo nhìn xuống, Dinh họ Vương nổi bật, bề thế giữa một thung lũng heo hút. Đến Hà Giang, du khách sẽ không thể bỏ qua điểm tham quan thú vị này, khám phá dinh thự, thăm chợ phiên trước dinh thự rồi từ điểm dừng chân này, du khách có cơ hội đi tiếp để chinh phục Cột cờ Lũng Cú.

Cao Thuỳ Liên

(Nguồn: Báo Lao động điện tử, 25/11/2014)



Chúc mừng Phó giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Thế Thắng



Viện Khoa học nghiên cứu nhân tài - nhân lực xin chúc mừng Phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện ISSTH Nguyễn Thế Thắng vừa được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Đây không chỉ là vinh dự riêng của PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thế Thắng, mà còn là vinh dự chung cho cả Viện ISSTH.

Suốt hơn tám năm qua, PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thế Thắng đã gắn bó với Viện ISSTH. Mặc dù công việc rất bận, với cương vị Trưởng Khoa Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Khu vực I, PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thế Thắng vẫn dành thời gian cho các hoạt động của Viện, đóng góp cả vật chất và tinh thần cho Viện.

PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thế Thắng là một nhà Hồ Chí Minh học, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, được giới nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đánh giá cao; đã từng làm Chủ nhiệm đề tài khoa học cấp nhà nước. Thế mạnh của PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thế Thắng thể hiện ở cả nghiên cứu và giảng dạy; đã đào tạo được nhiều tiến sĩ, thạc sĩ. Những người được PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thế Thắng đào tạo đã phát huy tốt tác dụng trong công vụ và nghiên cứu khoa học.

Rất mong PGS, TS, NGƯT Nguyễn Thế Thắng tiếp tục có những đóng góp cho các hoạt động khoa học của Viện, góp phần nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

Viện trưởng Viện Khoa học nghiên cứu nhân tài - nhân lực
PGS, TS Đức Vượng



8 thực phẩm "cấm kỵ" tuyệt đối không cho vào lò vi sóng


Sử dụng lò vi sóng có những ưu điểm như đun nấu nhanh, rã đông thực phẩm nhanh, cần ít dụng cụ nhà bếp, thao tác tiện lợi… Tuy nhiên, không phải loại thực phẩm nào cũng được sử dụng trong lò vi sóng. Dưới đây là những thực phẩm khi sử dụng cần chú ý.


Trứng tươi: Hãy từ bỏ việc nấu trứng bằng lò vi sóng, trứng tươi gặp nhiệt sẽ gây ra một áp lực làm nổ tung quả chín trước khi kịp chín.


Bông cải xanh (súp lơ xanh): Bất kỳ hình thức nấu nào cũng sẽ phá hủy một vài dưỡng chất trong thực phẩm. Hấp là hình thức nấu ăn nhẹ nhàng nhất mà cũng làm mất khoảng 11% lượng chất chống ôxy hóa trong bông cải xanh. Luộc bông cải xanh bằng lò vi sóng có thể làm mất đến 97% các chất ôxy hóa có lợi chứa trong nó.


Ớt khô: Khi quay ớt khô trong lò vi sóng, hãy xác định rằng khi mở nắp lò cũng là lúc hơi cay xộc ra xâm phạm tới cả mắt và miệng. Chính vì vậy, hãy cân nhắc kỹ việc bỏ ớt khô vào lò để sấy nhé.


Rã đông thịt: Tùy thuộc vào từng loại lò vi sóng có hay không có chế độ xoay, thịt có thể được rã đông hoặc nấu không đều. Thịt là loại thực phẩm khó rã đông nhất vì thời gian rã đông lâu khiến bên ngoài và các cạnh của miếng thịt chín trong khi phần bên trong vẫn đông đá. Khi nhiệt độ đạt từ 4,5 tới 60 độ, vi khuẩn trong thịt bắt đầu phát triển và sinh sôi, nếu không được nấu ngay, miếng thịt sẽ nhanh bị ôi thiu. Theo nghiên cứu của Nhật, miếng thịt nấu trong lò vi sóng lâu hơn 6 phút sẽ mất tới một nửa lượng B12. Cách rã đông hiệu quả hơn là để thịt trong tủ lạnh qua đêm hoặc để dưới vòi nước lạnh đang chảy.


Thịt gần chín: Không nên đưa thịt gần chín vào gia nhiệt tiếp. Bởi lẽ thịt gần chín (thịt tái) vẫn còn vi khuẩn gây bệnh, cho dù có bảo quản trong tủ lạnh, vi khuẩn vẫn sinh sôi, dẫu có gia nhiệt bằng lò vi sóng cũng không diệt hết được vi khuẩn.


Trái cây: Việc cho trái cây vào lò vi sóng sẽ khiến trái cây mất đi những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể bởi nhiệt độ cao của lò. Đặc biệt là bạn không nên cho nho vào lò vi sóng, dù là nho tươi hay nho khô bởi nho sẽ bị nổ tung và thải ra nhiều khí làm hỏng lò.


Bánh mì: Khi cho bánh mì vào lò vi sóng sẽ khiến bánh mì bị khô cứng, mềm, rất khó nuốt. Bánh nhanh chóng bị mất đi tính liên kết của các bột nhào nặn nên ăn bánh sẽ không ngon nữa. Vì vậy, nếu bạn muốn làm nóng bánh mì thì tốt hơn hết là bạn hãy để bánh mì vào lò nướng.


Sữa mẹ: Một lợi ích từ việc cho bé sử dụng sữa mẹ là khả năng cung cấp những chất kháng khuẩn rất hiệu quả. Tạp chí Nhi khoa (Mỹ) đã thử nghiệm 22 mẫu sữa mẹ đóng đá được rã đông trong lò vi sóng ở chế độ nhiệt khác nhau và người ta phát hiện ra rằng sữa mẹ hâm nóng ở nhiệt độ cao trong lò vi sóng phát triển nhiều vi khuẩn E-coli hơn so với các phương pháp rã đông khác tới 18%.

B.T tổng hợp

(Nguồn: Báo Lao động điện tử, 11/2014)



Để biến chứng tiểu đường không còn là nỗi lo của người bệnh


Tiểu đường ngày nay không còn là một căn bệnh nan y nguy hiểm mà nó thuộc loại bệnh có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, vẫn có một tỉ lệ lớn người bệnh đang chịu những ảnh hưởng nặng nề do biến chứng tiểu đường gây ra như: đột quỵ, suy thận, giảm thị lực, tổn thương thần kinh, hoại tử chi… Vậy làm cách nào để người bệnh tiểu đường sống khỏe mà không sợ các biến chứng ghé thăm.

 

Nguyên nhân gây biến chứng

Nguyên nhân chính dẫn đến các biến chứng của căn bệnh tiểu đường là do đường huyết tăng cao kéo dài, thúc đẩy quá trình hình thành các mảng xơ vữa mạch máu, tổn thương tế bào của các cơ quan và ức chế hệ thống miễn dịch bảo vệ cơ thể. Từ đó gây ra những tổn hại nguy hiểm đến sự tuần hoàn của nhiều phần trong cơ thể, làm hại các dây thần kinh và tăng nguy cơ bị bệnh tim.

Chính vì thế, giữ lượng đường trong máu luôn ở mức ổn định được xem là yếu tố quan trọng trong việc quản lý và giảm nguy cơ bị các biến chứng bệnh tiểu đường. Chỉ số đường huyết càng gần mức bình thường thì nguy cơ biến chứng càng giảm. Vùng đường huyết an toàn đối với những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường là 5,0-6,2 mmol/l trước khi ăn, 6-9 mmol/l sau bữa ăn 2 giờ và 6,0-8,3 mmol/l trước lúc đi ngủ. Đặc biệt, bệnh nhân tiểu đường phải giữ mức đường huyết không vượt quá 19mmol/l, nếu vượt qua con số trên, các biến chứng nghiêm trọng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.

Chỉ số HbA1C

Biến chứng tiểu đường vẫn có thể xuất hiện dù hàm lượng đường trong máu của bệnh nhân luôn được kiểm soát trong giới hạn an toàn. Bởi đường huyết chỉ cho biết lượng đường máu ngay tại thời điểm đo mà không phải là kết quả toàn diện một quá trình diễn biến lâu dài của đường huyết. Do đó, người bệnh cần theo dõi HbA1C - chỉ số giúp kiểm soát đường huyết trong vòng ba tháng gần nhất để ngăn chặn những biến chứng tiểu đường. Người mắc bệnh tiểu đường nên thực hiện xét nghiệm HbA1C 3-6 tháng một lần. Lượng đường kiểm soát tốt nhất khi chỉ số HbA1C dưới 6.5%.

Khi HbA1C giảm, nguy cơ các biến chứng cũng giảm tương ứng. Nếu chỉ số HbA1c cao trên 7.0%, chứng tỏ bệnh nhân tiểu đường đã hoặc sắp có biến chứng rất nặng. Kiểm soát tốt đường huyết và giảm chỉ số HbA1c từ dưới 6.5% xuống dưới 5.5%, bệnh nhân đã tự mình giảm 43% nguy cơ cắt cụt chi, 37% nguy cơ suy thận, mù mắt, 28% nguy cơ suy thận và ngăn ngừa đáng kể các biến chứng khác như nhồi máu cơ tim, đột quỵ...

Chú ý chế độ dinh dưỡng

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, chế độ ăn uống khoa học là vấn đề then chốt giúp khống chế bệnh cũng như nhiều biến chứng nghiêm trọng từ tiểu đường. Một chế độ ăn lành mạnh bao gồm các loại thực phẩm ít chất béo, calorie, bổ sung rau xanh, trái cây và thịt nạc trắng. Chất xơ đóng vai trò quan trọng trong quá trình ngăn ngừa biến chứng tiểu đường, bởi chất xơ có khả năng hạ thấp hàm lượng đường trong máu một cách hiệu quả. 

ISSTH sưu tầm



Cơ sở phương pháp luận khoa học của việc nghiên cứu sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta ngày nay




TS. Hồ Bá Thâm

Về mặt đặt vấn đề và các nội dung gợi ý trong hội thảo “Phương pháp luận và nội dung nghiên cứu phát triển xã hội và quản lý xã hội” là phong phú (cả mặt cơ sở lý thuyết, cơ sở lịch sử, cơ sở thực tiễn, cả góc nhìn truyền thống và hiện đại, dân tộc và toàn cầu), và hết sức cần thiết. GS. TS. Hoàng Chí Bảo cũng đã có bài viết giới thiệu khái quát nhưng rất sâu sắc về những vấn đề nghiên cứu của đề tài (đăng trên Thông tin KHXH). GS.TS Phạm Xuân Nam cũng có công trỉnh nghiên cứu đã in sách về Tiến bộ và công bằng xã hội, hoặc có bài viết về lĩnh vực quản lý phát triển xã hội mới đây (1). Tuy vậy, lĩnh vực này cũng cần nghiên cứu tiếp và cần nhìn từ nhiều góc độ, nhiều cách tiếp cận.

Sau đây, chúng tôi trình bày một số phương pháp luận tiếp cận nghiên cứu cụ thể lĩnh vực phát triển và quản lý phát triển xã hội đối với nước ta.

1- Phương pháp luận tiếp cận thứ nhất: thực tế của lĩnh vực xã hội giới hạn và phạm vi vấn đề

Khía cạnh thứ nhất: Vấn đề xã hội đang nổi lên gây gắt.

Cùng với quá trình tiến hành công nghiệp hóa, phát trkển kinh tế thị trưởng, hội nhập quốc tế, tăng trưởng kinh tế với tốc dộ khá cao trong nhiều năm, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh khá phức tạp. Nông dân nghèo thì “bị gạt ra khỏi lề” (Võ Văn Kiệt) tăng trưởng, ít hưởng lợi từ tằng trưởng; công nhân bị xâm phạm lợi ích thì đình công, các cuộc khiếu kiện về đất đai kéo dài, nạn ma túy, mại dâm và nghiện ngập không giảm và có mặt diễn biến tinh vi phức tạp hơn; nạn thất nghiệp và ban thất nghiệp hay thất nghiệp tiềm tàng trong sinh viên ra trường và trong người lao động còn cao; vấn đề an toàn lao động, vệ sinh thực phẩm cũng gia tăng; nạn bạo lực, trộm cướp, ô nhiễm môi trường sống,… càng ngày một phức tạp…. Phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội gia tăng.

Chẳng hạn hãy xem “7 nỗi khổ của người nông dân” (chủ yếu về mặt xã hội từ hệ quả tăng trưởng kinh tế không công bằng, thiếu bền vững) của Giáo sư – Viện sĩ Đào Thế Tuấn.

- Không đủ điều kiện để giảm nghèo. Nông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chưa gắn liền với việc phát triển kinh tế nông thôn nên chưa bền vững, vẫn còn có thể tái nghèo. Giáo sư Amartya Sen, người Mỹ gốc Ấn Độ, được giải Nobel chỉ ra rằng cái người nghèo cần không phải giúp họ tiền mà là các điều kiện để phát triển kinh tế (đất đai, công cụ, trâu bò và kỹ năng) và quyền được hoạt động để thoát khỏi cảnh nghèo, tức là cần “cần câu” chứ không phải “con cá”.

- Thương nghiệp không công bằng. Thương nghiệp giữa nông thôn và đô thị hiện nay nói chung chưa được công bằng. Nông dân bị các doanh nghiệp và tư thương bóc lột. Chiến lược phát triển thương nghiệp của Nhà nước là xây dựng chế độ nông nghiệp hợp đồng, làm cho hộ nông dân phụ thuộc vào doanh nghiệp, trở thành người làm công cho doanh nghiệp, sẽ dẫn đến sự độc quyền của doanh nghiệp, vì giá cả do doanh nghiệp quyết định, nông dân không có quyền mặc cả trên thị trường. Muốn giải quyết tình trạng này phải phát triển song song các hợp tác xã có các hoạt động chế biến và buôn bán thì việc phân phối thu nhập mới được công bằng.

- Thu nhập thấp. Nông dân là những người khởi xướng Đổi mới nhưng nay lại ít được hưởng lợi của Đổi mới nhất. Nhân khẩu nông nghiệp thừa gây ra tình trạng di cư ra thành thị để tìm thu nhập cao hơn. Để nước ra trở thành một nước công nghiệp phải rút ra khỏi nông nghiệp một khoảng nửa lao động. Quá trình di cư này là tích cực vì sẽ giúp cho nông dân giảm được lao động thừa, giải quyết được việc làm và tăng năng suất lao động.

- Nạn hàng giả. Qua cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, chúng ta càng thấy rõ là nạn đầu cơ đang phổ biến khắp nơi. Bây giờ mới thấy giá năng lượng và lương thực tăng không phải vì thiếu hụt mà chính là do các công ty đa quốc gia đầu cơ. Trong nước giá năng lượng, vật tư, hàng hóa, lương thực tăng rất mạnh lúc giá thế giới tăng nhưng lúc giá thế giới giảm lại giảm rất chậm, do các doanh nghiệp đầu cơ. Hiện nay, hàng giả và gian lận tràn ngập thị trường. Giá đầu vào tăng nhanh mà giá đầu ra lại giảm làm cho nông dân càng chịu thiệt nặng.

- Giá đất nông nghiệp thấp. Việc người nông dân bảo hộ quyền sở hữu ruộng đất của họ là chính đáng. Ruộng đất là di sản mà cha ông để lại cho họ, thiếu nó thì họ không thể sống lại. Thế mà hiện nay chúng ta lại lấy của họ, đền bù cho họ với một giá không đáng kể so với giá sau khi chuyển mục đích sử dụng.Việc đòi nhà nước tăng mức hiện điền sẽ tạo sự công bằng. Việc tăng quy mô của hộ nông dân giúp họ trở thành nông trại gia đình như ở các nước tiên tiến phải cho tất cả mọi người được hưởng chứ không phải chỉ dành cho một số người giàu.

- Không được hưởng phúc lợi xã hội. Nông dân là bộ phận công dân ít được hưởng phúc lợi xã hội nhất, nhất là về giáo dục, y tế. Những vấn đề xã hội ở nông thông chưa được giải quyết một cách cơ bản. Bảo hiểm thiệt hại do thiên tai và thị trường, bảo hiểm xã hội. Ở nước ta lực lượng lao động di cư ra đô thị không có ai quản lý, đang trở thành công dân loại hai ở các đô thị, chẳng được hưởng một phúc lợi xã hội nào.

- Môi trường bị ô nhiễm. Môi trường nông thôn hiện nay đang bị ô nhiễm nặng nề gây nhiều nguy hiểm cho nông dân. Trước hết là do sử dụng thuốc bảo vệ cây trồng, sau đến các chất phế thải của chăn nuôi và làng nghề, rồi đến các nước thải do các doanh nghiệp. Không thể chỉ giao cho cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp làm công việc này. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu giao cho cộng đồng địa phương cùng tham gia thì sẽ có hiệu quả hơn nhiều.(2)

Về các cuộc khiếu kiện, trong 6 tháng đầu năm 2008, trụ sở tiếp dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội (trụ sở HN) đã tiếp nhận 2.610 việc của dân, gồm: khiếu nại, tố cáo, phản ánh… Trong đó số việc về đất đai chiếm một lượng đáng kể: 1.300 việc. 50% tổng số vụ việc liên quan đến đất (3). (Vấn đề này hiện nay, 2014 vẫn chưa giảm, hay giảm chưa vững chắc, mặc dù đã sửa luật về đất đai). Chúng tôi đã nghiên cứu đề tài về mâu thuẫn xung đột lợi ích trong đời sống xã hội ở TPHCM nên càng hiểu rõ tính cấp bách và phức tạp của vấn đề này.

Nhìn chung, các vấn đề xã hội (ở đây không đề cập các vấn đề chính trị hay xã hội chính trị, chính trị xã hội), an sinh xã hội, còn nhiều nhức nhối. nóng bỏng, vai trò xã hội dân sự còn mờ nhạt và họat động còn yếu. Tất nhiên, chúng ta không phải nhận những mặt đã đạt được như mức độ giảm nghèo, giải quyết việc làm, tương thân tương ái, phòng chống dích bệnh…

Trong khi tập trung trọng tâm phát triển kinh tế nhưng không chủ động giải quyết các vấn đề xã hội, cả về mặt phát triển và quản lý thì sẽ không có sự đồng biộ, đồng thuận trong phát triển, không tạo nên hợp lực và khó mà đoàn kết xã hội,, đoàn kết dân tộc và phát triển bền vững. Trong phát triển bền vững, nhân văn phải có sự đồng bộ - gắn kết- liên thông giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và môi trường.

Mặc dù trên thế giới chương trình phát triển lĩnh vực đời sống xã hội xã khởi động từ năm 1995, và nhà nước ta cũng đã tham gia chương trình Thiên niên kỷ, thế nhưng gần đây ở nước ta, các nhà quản lý và giới nghiên cứu quan tâm hơn lĩinh vực phát triển lĩnh vực xã hội, như lĩnh vực riêng, trong tương quan với lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và môi trường.

Khía cạnh thứ hai: Về phạm vi khái niệm xã hội hay lĩnh vực xã hội.

Lĩnh vực xã hội (cũng như một hệ thống- hệ thống xã hội) một trong năm lĩnh vực ấy ở đây như vậy là theo nghĩa hẹp nhất (nghĩa cấp độ thứ ba). Bởi vì ngoài nghĩa rộng nhất (nghĩa cấp độ thứ nhất ) là hình thái kinh tế xã hội, thì xã hội có khi là nghĩa trung (nghĩa cấp độ thứ hai) như quan hệ giữa kinh tế và xã hội; hay chỉ nói kinh tế, chính trị, xã hội; hay nói kinh tế, xã hội, văn hóa. Xã hội theo nghĩa hẹp tức là các vấn đề xã hội hay lĩnh vực liên quan tới chính sách xã hội.Nhưng khái niệm chính sách xã hiểu mấy năm trước đây thường nghĩa rộng bao hàm cả chính sách văn hóa, tức là gần như nghĩa trung, tức nghĩa thứ hai.

Tất nhiên, khi nói về lĩnh vực xã hội cũng bao hàm cả khía cạnh xã hội của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và môi trường, bởi vì lĩnh vực xã hội không chỉ có nghĩa không gian riêng mà gắn liền, lồng ghép và thẩm thấu trong các lĩnh vực khác. Do vậy, vẫn cần cái nhìn biện chứng là vì vậy.

Do vậy, theo tôi về khái niệm, nên nói lĩnh vực xã hội, như phát triển lĩnh vực xã hội, quản lý phát triển lĩnh vực xã hội, mà lĩnh vực xã hội thực chất là lĩnh vực sống, đời sống, hay lĩnh vực phát triển xã hội- lĩnh vực quản lý phát triển xã hội để đỡ nhầm lẫn và khỏi phải giải thích.

Các nhà lý luận Trung Quốc gần đây cũng phân định như vậy, thậm chí họ còn cho rằng lần đầu tiên (lĩnh vực) xã hội này được tách ra nghiên cứu và xây dựng quan niệm riêng là một sự phát triển lý luận mới so với sự nhập nhằng, và chứng tỏ coi nhẹ vấn đề xã hội xét góc độ phát trỉển và quản lý (4)

Khía cạnh thứ ba: Cần xây dựng cơ sở khoa học, tức hệ lý thuyết về các vấn đề phát triển lĩnh vực xã hội và quản lý lĩnh vực xã hội ở nuớc ta.

Sự quan tâm nói trên không chỉ ở phương diện thực tiễn mà cả phương diện “Những lý luận cơ bản”. Nhưng phương diện lý luận cơ bản theo chúng tôi không chỉ là tìm hiểu vận dụng các lý thuyết bên ngoài, các phương pháp luận hiện đại mà phải hướng tới xây dựng một hệ quan điểm, nghĩa là một lý thuyết- lý luận về phát triển lĩnh vực phát triển xã hội, quản lý lĩnh vực xã hội ở Việt Nam mới đủ sức làm cơ sở giải quyết các vấn đề cụ thể. Nghĩa là trước hết nên và cần phải xây dựng cơ sở khoa học của sự phát triển và quản lý phảt triến lĩnh vực xã hội. Thực ra thì các lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, phát triển chính trị và phát triển và bảo vệ môi trường trong quan hệ với vấn đề quản lý phát triển cũng đã có lý thuyết- hệ quan niệm, quan điểm riêng, tương đối rõ ràng.

Nhưng hệ lý thuyết về các vấn đề phát triển lĩnh vực xã hội và quản lý xã hội ở nuớc ta chưa được xây dựng, phân định rõ ràng, còn nhập nhằng và thiêu nhất quán. Ngay khái niệm “lĩnh vực xã hội” ở đây có khi bao hàm cả văn hóa xã hội, hay bao hàm cả môi trường tự nhiên- môi trường sống, thậm chí bao hàm cả xã hội chính trị. Và nếu nó bao hàm cả luôn thì không đúng. Cố nhiên 5 lĩnh vực, chứ không phải 3 hay 4, là không có ranh giới cố định mà chúng liên quan, liên thông, tràn sang nhau và bao hàm nhau. Nhưng về mặt nhận thức cần phân dịnh rõ ràng mới có thể tường minh.

2- Phương pháp luận tiếp cận thứ hai: cơ sở lý luận, khoa học của việc nghiên cứu, tiếp cận: cần có cái nhìn hiện đại của “Khoa học mới”

Ở các nước phưong Tây, khoa học vè các vấn đề hay lĩnh vực xã hội cũng đã có sự nghiên cứu với các khuynh hướng khác nhau.

Nhưng có một quan niệm cần đặc biệt lưu ý là ngày nay khi xem xét lĩnh vực xã hội như một hệ thống con và nó nằm trong hệ thống lớn, trong quan hệ với các hệ thống con thành phần và cả hệ thống lớn cũng như với chính nó, thì cần quán triệt quan niệm về “Khoa học mới”- khoa học của thế kỷ 21- “Khoa học hê thống phức hợp”, đa trí tuệ. Đấy là tư duy khoa học mới liên quan tới quan niệm về phát triển và quản lý phát triển không chỉ trên lĩnh vực xã hội, nhưng trên bình diện nhận thức xã hội và cấp độ nhận thức quản lý còn ít được coi trọng và tiếp cận đầy đủ, hay thường chỉ dừng lại tư duy hệ thống cơ giới, đơn hệ.

Tinh thần tư duy khoa học mới này được GS.TS. Phan Đình Diệu và một số nhà khoa học diễn giải, chúng ta có thể tóm tắt và rút ra, vận dụng như sau:

- Chú ý tính hợp trội của hệ thống khi phát triển lĩnh vực xã hội và quản lý phát triển.

Một hệ thống phức tạp hợp thành từ nhiều thành phần, nó "có những thuộc tính của cái toàn thể mà ta không thể hiểu được từ những hiểu biết (dù có sâu sắc và đầy đủ?) về các thuộc tính của các thành phần. Hệ thống phong phú hơn tổng các thành phần của nó. Cái làm nên sự phong phú hơn đó của hệ thống là "rất phổ biến đối với các hệ thống phức tạp, mà ngày nay ta gọi chung là “tính hợp trội” (émergbace) của các hệ thống đó, tính hợp trội đó làm nên những trật tự mới, tổ chức mới, chất lượng mới trong quá trình tiêu hoá của giới tự nhiên cũng như của xã hội loài người...". Hợp trội, tính hợp trội là một ý niệm then chốt trong "ý hệ", tức là hệ thống những ý niệm cơ bản (paradigme) của "khoa học mới".

Do vậy, chúng tôi nghĩ rằng, phải có sự đồng bộ, liên thông để phát hiện cái hợp trội ấy trong phát triển và chính sách quản lý lĩnh vực phát triển xã hội.

- Chú ý vấn đề hợp tác cùng có lợi, cộng đồng trách nhiệm, cùng phát triển theo tư duy thích nghi của khoa học mới.

“Từ quan điểm của "khoa học mới” cần xem lại những quan điểm "chọn lọc tự nhiên" và "thích nghi" của tiến hoá luận Darwin: "Chọn lọc tự nhiên để giữ lấy những gì thích hợp nhất, có khả năng thích nghi nhất với môi trường, là một đặc điểm của tiến hoá chứ không phải là đặc điểm duy nhất, nếu chỉ có chọn lọc tự nhiên thì không thể có sự phát triển đa dạng qua tiến hoá"."Thích nghi không chỉ nhằm loại bỏ những gì không phù hợp, mà còn chủ yếu là một khả năng tự thay đổi, tự hoàn thiện, khả năng học để phù hợp với môi trường, trong tiến hoá nhiều phẩm chất mới sẽ được hình thành và sáng tạo nên, nhiều quan hệ hợp tác mới sẽ được phát triển, và do đó nhiều hình thức tổ chức mới, trật tự mới được chuẩn bị" (Chiến lược “thắng - thắng" , tức mọi bên đều thắng, thay cho chiến lược "ai thắng ai" trước đây là một ví dụ rất hay về "trật tự mới"). Chính khả năng thích nghi một cách linh hoạt và sáng tạo là yếu tố quan trọng tạo nên hành vi hợp trội của các hệ thống phức tạp trong những quá trình tiến hoá của chúng”.

- Chú ý đặc điểm mới hiện nay là quản lý phát triển là cùng quản lý, từ dưới lên chứ không phải một chiều từ trên xuống và quản lý là phục vụ chứ không phải ra lệnh kiểu hành chính.

“Phương thức đặc biệt điều khiển (hay quản lý) những hệ thống phức tạp”, có lẽ đây là đóng góp có ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhất của tư duy mới: "Người ta nhận thấy rằng ở các hệ thống thích nghi phức tạp, hành vi hợp trội như vậy thường xuất hiện mà không cần có một sự chỉ huy từ một trung tâm nào cả, nó xuất hiện một cách tự phát từ dưới lên (bottom-up) như kết quả tổng hợp các tương tác giữa các thành phần, và do đó những xuất hiện như vậy thường là không tiên đoán được, để điều khiển các hệ thống đó không thể dùng phương pháp "kế hoạch hoá" mà chỉ có thể là điều khiển, kiến tạo một cách thích nghi bằng cách tăng cường khả năng học và năng lực sáng tạo để có thể phán đoán, phản ứng tức thời dựa vào trực cảm và kinh nghiệm trên cơ sở tích luỹ thông tin và tri thức mới mà thôi". Cách điều khiển này không biết gọi là gì cho chính đáng, nhưng chắc chắn đấy không phải là cách điều khiển quan liêu mệnh lệnh, bởi lẽ "tăng cường khả năng học và năng lực sáng tạo" không phải là thói quen của những người quan liêu mệnh lệnh”.

- Phát triển và quản lý là vừa đấu tranh và hợp tác chứ không phải cực đoan một mặt.

“Thế kỉ XXI vừa qua như "một thế kỉ đã cho ra đời nhiều lý thuyết cân bằng và ổn định trong ngành khoa học như vật lý, toán học, kinh tế… Hẳn là những lý thuyết này có để lại những nếp cảm và nghĩ thiên về cân bằng và ổn định trong tâm tư con người. "Nhưng trong đời thực, hình như thực tế đã đi xa mọi cân bằng và ít có ổn định, và chính trong những trạng thái xa cân bằng đó đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau, nhiều xu hướng khác nhau trong sự phát triển kinh tế - xã hội, trong khoa học, văn học, nghệ thuật". Giữa những xu hướng khác nhau đó "có cạnh tranh, thậm chí đấu tranh không khoan nhượng một mất một còn" và "cũng có hợp tác một xu thế hợp tác càng ngày càng được khẳng định".

- Chú ý có tính trật tự và tính hỗn độn, khó chẩn đoán trong quá trình phát triển và quản lý lĩnh vực xã hội

Hệ thống phức tạp không chỉ có trật tư mà còn có hỗn độn. Nhưng trong tư duy cơ giới và một thời chúng ta chỉ thấy tính trật tự và tính tất yếu, tuyến tính. Hệ thống bíến đổi từ mất cân bằng đến". “Và rồi trong trạng thái xa cân bằng, "ở bên bờ hỗn độn" đó, những sức sống mới của các khả năng thích nghi và đổi mới của thời đại đã sáng tạo nên những hợp trội của tiến hoá, tạo ra đây đó những trật tự mới có chất lượng tổ chức cao hơn cho cuộc sống, có lẽ đây là cái lẽ đời ẩn sâu trong các biến chuyển và đổi thay của cuộc đời và thời đại mà khoa học mới giúp ta cảm nhận được”. (5)

- Nắm vững quan hệ giữa khoa học và xã hội theo cách mới:

Helga Nowotny, Peter Scott, Míchael Gibbons, do tính phức tạp và bất định của nó, xã hội không còn được hiểu là một cỗ máy hoạt động đều đặn theo những luật tất định một cách thuần nhất, để cho cái khoa học Phương thức 1 có thể ứng dụng vào và đều đặn rút ra các tri thức tất định như những "chân lý khách quan" hướng dẫn nhận thức và hành động con người. Môi trường phức tạp và chứa nhiều bất định có nghĩa là nó không còn thuần nhất, không đoán trước được, mà chỉ có thể biết được các bối cảnh tức thời của nó. Tri thức về một đối tượng như vậy, rõ ràng nhiều lắm cũng chỉ là tri thức về những bối cảnh cụ thể của nó. Các tác giả gọi những tri thức như vậy là tri thức được bối cảnh hóa hay tri thức cảm bối cảnh. Bối cảnh hóa, theo các tác giả, là đặc trưng chủ yếu của tri thức trong khoa học Phương thức 2. Tùy theo mức độ phụ thuộc vào bối cảnh là yếu hay mạnh mà có tri thức bối cảnh hóa yếu hay tri thức bối cảnh hóa mạnh.

Do tri thức được bối cảnh hóa, nên có thể sẽ không còn có một khoa học độc lập, tự quản, sản xuất ra những tri thức khách quan, độc lập, thuần khiết, một cái lõi tri thức làm nòng cốt của tri thức luận. Bối cảnh hóa cũng có nghĩa là các bối cảnh khác nhau, tức là xã hội, tăng cường tác động đối đáp lại khoa học, tham gia tích cực hơn vào việc sản xuất ra tri thức. Tiêu chí cho những sản phẩm từ thức được tạo ra như vậy sẽ không còn chỉ là những tri thức đúng, những "chân lý khách quan mà còn phải kể đến những “tri thức tin cậy được”, và những "tri thức thiết thực về mặt xã hội" (socially robust knowledge). Các thiết chế sản xuất tri thức, các trường đại học, các phòng nghiên cứu khoa học,... theo các tác giả, cũng có nhiều thay đổi theo yêu cầu của bối cảnh hóa. Xã hội tham gia tích cực vào việc sản xuất tri thức có nghĩa là công việc làm khoa học, sáng tạo ra tri thức, không còn bó hẹp vào một sổ chuyên gia nghiên cứu trong các trường đại học và phòng nghiên cứu, mà sẽ được mở rộng ngày càng nhiều cho "công chúng". Việc sản xuất tri thức được "công chúng hóa" dần, có thể tiến đến một hình thức thảo luận rộng rãi ở các "quảng trường" kiểu như các "agora" ở các thành bang Hy Lạp thời cổ đại của Plato, Socrates. Công chúng hóa việc sản xuất tri thức cũng sẽ đi kèm với một sự phân phối mới, rộng khắp hơn các "năng lực chuyên môn" trong xã hội. Tất cả các điều nói trên sẽ dẫn ta đến một cách nhìn mới, một cách hiểu mới về khoa học, và khi ta nói "tư duy lại khoa học" thì điều đó không có nghĩa là nói về một khoa học hiện hữu "được tư duy lại". Khoa học trong cách nhìn mới sẽ không còn là cái khoa học vồn có với quyền uy tối thượng sản xuất và ban phát các chân lý khách quan, định đoạt tính đúng sai của các nhận thức và lý giải của con người, mà là khoa học trong tương lai, khoa học sẽ được phát triển trong sự tương tác thường xuyên với các bối cảnh của tự nhiên và xã hội, các bối cảnh luôn luôn trong tình trạng bị tác động của những xáo trộn ngẫu nhiên, bất định và không dự đoán trước được[1]. Khoa học mới, hệ thống sản xuất tri thức theo Phương thức 2, sẽ đồng tiến hóa với xã hội Phương thức 2 trong những mối tương tác qua lại phức tạp, phi tuyến, không chắc chắn và trong những trạng thái xa cân bằng, không ổn định. Thông qua các tiến trình đồng tiến hóa như vậy, bằng các khả năng học và thích nghi, sẽ có thể đạt đến những emergence, những hợp trội với những chất lượng mới cho cả khoa học và xã hội. Và rồi, những phức tạp và bất định mới sẽ nảy sinh, và tiến trình đồng tiến hóa với những tương tác, học và thích nghi, v.v... sẽ lại tiếp tục. Qua đồng tiến hóa, khoa học và cả xã hội, văn hóa sẽ không trở lại vị trí và vai trò cũ của mình mà sẽ được phát triển phong phú hơn, đa dạng hơn. Đó là bức tranh mà các tác giả hình dung trong một cách nhìn mới về khoa học. Đúng sai như thế nào là điều khó phán quyết nhưng dù sao cũng có thể nói rằng những điều được hình dung đó là phù hợp với những phát hiện của khoa học mới về sự phức tạp trong vài ba thập niên gần đây.(6)

3-Phương pháp tiếp cận thứ ba: Cần chú ý những vấn đề của xã hội hiện đại dưới ánh sáng của tư tưởng khai sáng.

Theo cố GS. Hoàng Ngọc Hiến, trong phát huy nội lực thì năng lực suy nghĩ độc lập là một tố chất cốt yếu. Trong bài Tương lai của Khai sáng của Bùi Văn Nam Sơn, yếu tính của năng lực suy nghĩ độc lập được xác định bằng một định nghĩa về Khai sáng của Kant (chúng ta biết Kant và Hegel là hai gương mặt "thực tế vẫn đứng đằng sau hậu trường, chi phối toàn bộ cuộc thảo luận hiện nay về "tương lai của Khai sáng"). Khai sáng - Kant viết - "là việc con người thoát ra khỏi tình trạng không trưởng thành do lỗi của chính mình gây ra. Không trưởng thành nghĩa là không có khả năng sử dụng lý trí của mình mà không có sự dắt dẫn của người khác. Còn do tự mình gây ra là khi nguyên nhân không phải do thiếu lý trí mà do thiếu lòng kiên quyết và dũng cảm để dùng lý trí của mình không cần sự dắt dẫn của người khác". Theo Kant, lý tưởng của Khai sáng là "tính trưởng thành", tức là năng lực suy nghĩ độc lập. Như vậy, người không có nặng lực suy nghĩ độc lập là người chưa trưởng thành, hoặc nói như Tản Đà là "vẫn trẻ con". Mặt khác, người có lý trí mà kém khả năng suy nghĩ độc lập trước hết phải trách cứ bản thân mình phải thấy những khiếm khuyết ở mình: "thiếu lòng kiên quyết và dũng cảm", "lười biếng và hèn nhát"... không nên chỉ một mực oán trách thể chế.

Từ "Khai sáng”, được Bùi Văn Nam Sơn hiểu như là lý tưởng và như là diễn trình. "Phương Tây đã trải qua bốn thời kì Khai sáng lớn trong lịch sử: thế kỉ VI - thế kỉ IV trên với các nhà nguỵ biện Socrate, Platon , thời kì Phục hưng với Pico della Mirandola, Machiavelli, Bacon , thế kỉ XVIII với Rousseau, các nhà Bách khoa Pháp, Kant... và phong trào cấp tiến sau đó với C.Mác, Darwin, Freud" (Trong các giáo trình, sách tham khảo ở Việt Nam, Khai sáng thường được lược giản vào thời kì thứ ba). "Tính chất của diễn trình Khai sáng ở phương Tây là khả năng tự phê phán và điều chỉnh".

Tiến trình Khai sáng là một quá trình đầy mâu thuẫn và nghịch lý. Horkheimer và Adomo từ những năm 1940 của thế kỉ XX đã nêu lên những hậu quả nghịch lý của tiến trình Khai sáng: "Từ đề án hợp lý nhằm loại bỏ những đặc quyền phi lý tính lại trỗi dậy một thứ lý tính duy lợi thâm nhập vào mọi ngõ ngách của cơ thể xã hội. Từ nỗ lực phá vỡ sự cưỡng chế của tự nhiên bằng cách phát triển các lực lượng sản xuất đã tạo nên những sự phá hoại có nguy cơ chôn vùi bản thân cơ sở sinh tồn tự nhiên của con người. Kế hoạch được phát động với động cơ nhân đạo nhằm giải thích bằng lý luận đối với thế giới tự nhiên và xã hội đã đảo ngược thành một sự phát triển khoa học đơn thuần dựa trên các chuẩn mực kinh tế - kĩ thuật, không còn có quan hệ nào với các mục tiêu nhân đạo. Sự giải phóng văn hoá - văn nghệ ra khỏi ách kìm kẹp của giáo điều rốt cuộc chỉ tạo ra một thứ “văn nghệ đại chúng", một nền công nghiệp giải trí hoàn toàn bị điều kiện hoá và dễ dàng bị khống chế...".

Nền văn hoá Khai sáng thoát thai từ cuộc cách mạng chính trị và công nghiệp với đề án vĩ đại gọi là nền văn minh khoa học kĩ thuật có "mặt trái của nó là nhưng nạn nhân và cái giá phải trả cho tiến bộ. Nền văn hoá đó đang tự tạo ra ba mâu thuẫn chết người: sự bất công, nghèo đói của thế giới thứ ba, nguy cơ chiến tranh huỷ diệt và thảm hoạ toàn cầu về môi trường, cùng với một hậu quả trầm trọng ngay nơi chiếc nôi của nó: sự mất phương hướng về tinh thần và triết học...".

Ở phương Tây, "diễn trình Khai sáng đã phát triển tới mức độ không còn cần dựa vào một ông vua chuyên chế anh minh, một chính đảng tiên phong hay một định chế chuyên gia duy nhất nào nữa như các thế kỉ trước". Vì vậy, theo nhận định của tác giả, tương lai của Khai sáng có thể sẽ khác với các truyền thống - vốn thoát thai từ Khai sáng - ít ra ở ba phương diện: nó không bị giới hạn trong khuôn khổ một hệ thống chính trị mà trở thành một lối sống văn hoá, xã hội được khai sáng không đồng nghĩa với "đại đồng", "đại thuận", "đại trị", trái lại xem tranh chấp và bất đồng là hình thức bình thường của giao tiếp chính trị, xã hội, "các yêu sách về tính chính đáng (legitimationen) tối hậu, chung tất là không thể có được.

Trong nỗ lực để hình dung tương lai của Khai sáng, tác giả chú ý đến quan điểm của Alain Touraine về tính hiện đại và lý tỉnh Khai sáng: Tây phương đang cố gắng rời bỏ "tính hiện đại hạn chế", tính "hiện đại nửa vời" để bước vào một "tính hiện đại toàn vẹn" hơn, kết hợp hợp lý hoá và chủ thể hoá, tính hiệu quả và tự do". Tôi hiểu yêu cầu toàn vẹn của tính hiện đại mới như sau: tính hiệu quả mà tách rời tự do thì "tính hữu ích" sẽ thành nguyên tắc phổ biến và kết quả mang lại sẽ là “chế độ khủng bố, cực quyền (ám chỉ thời kì khủng bố của Cách mạng Pháp), nhưng ta có thể liên tưởng đến... cách mạng văn hoá và chế độ Polpot"..., hợp lý hoá phát triển một cách phiến diện, tách rời quá trình chủ thể hoá có thể có hậu quả là tha hoá lý trí của chủ thể, từ đó lý trí và chủ thể mang lý trí bị biến thành công cụ, trường hợp xấu nhất là công cụ bị sử dụng phục vụ cho cường quyền (quân phiệt, tài phiệt và các thứ "phiệt" khác”. Hậu quả này được Alain Touraine gọi là "chủ nghĩa duy lý công cụ”.

Về tương lai của Khai sáng, những câu hỏi nhiều hơn những câu trả lời. Kết thúc bài tiểu luận tác giả hi vọng: “Các thập niên đầu thế kỉ XXI... có thể mang lại giải đáp, nếu ta vẫn tin rằng: nguyên tắc của truyền thống Khai sáng là không xem người khác có "ít" lý tính hơn mình, rằng có thể phản bác nhau bằng lập luận chứ không được quy kết bản chất của người khác vào “trục ác”… [HNH nhấn mạnh][2].


4-Phương pháp luận tiếp cận thứ tư: quán triệt quan niệm triết học và khoa học xã hội - nhân văn về phát triển lĩnh vực xã hội


Ở châu Âu (như tác giả Harlan và Garyy Jacobs) và ông Sri Aurobindo thuộc Viện The Mothers Sevice Society ở phía Nam Ấn Độ (chuyên nghiên cứu quy luật phát triển con người) có quan niệm về phát triển xã hội nói chung và phát triển lĩnh vực xã hội/ các vấn đề xã hội, tức lĩnh vực phát triển cộng đồng người. nhóm xã hội. Ở đây chúng tôi chỉ xm xét phát triển lĩnh vực xã hội/ các vấn đề xã hội theo chiều sâu, bản chất của nó, qua những nội dung chung, tóm tắt, sau đây:

- Phát triển lĩnh vực xã hội khác phát triển kinh tế như thế nào?. Phát triển lĩnh vực xã hội là gì?

Phát triển kinh tế là phát huy tài nguyên vật chất- tự nhiên- nhân tạo và tài nguyên tài chính cũng như tài nguyên con người (thể chất, tinh thần, trí tuệ, tâm lý) tạo nên tăng trưởng, thay đổi cơ cấu và thu nhập. Nhưng phát triển kinh tế chưa chắc đã giải quyết được vấn đề xã hội, các nhu cầu về mặt xã hội. Phát triển xã hội là nhằm trực tíếp giải quyết các vấn đề mâu thuẫn lĩnh vực xã hội - lợi ích các cộng đồng và nhóm xã hội, những cộng đồng người, thúc đẩy xã hội phát triển.

Phát triển (lĩnh vực) xã hội là phát huy, mở rộng và đưa vào hiện thực các tiềm năng, những năng lực, những khát vọng của con người và tổ chức (xã hội dân sự), các giá trị xã hội,… để trở thành lực lượng vật chất, lực lượng thực tiễn thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội.

Đó cũng là quá trình nhận thức, tự nhận thức, tự học hõi lẫn nhau, họat động và tự triển khai, sáng tạo và biến thành công nghệ, sức mạnh thành tổ chức từ những tiềm năng và khát vọng xã hội. Nhưng cần tác động từ quyền lực của chính phù và quyền lực xã hội - văn hóa cũng như bí quyết kỷ thuật- công nghệ xã hội..

- Quản lý phát triển xã hội là gì?

Quản lý (điều hành cả gián tiếp và trực tiếp) phát triển lĩnh vực xã hội là giải phóng các tiềm năng, kỷ năng và năng lực ấy, chuyển hóa thành sức mạnh xã hội thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ xã hội., do con người, vì con người, tạo ra môi trường phát triển năng lực, phẩm chất, phẩm giá người. Quản lý xã hội tất nhiên phải có luật nhưng vẫn chú ý lệ, dư luận xã hội, chú ý tác nhân giá trị văn hóa- xã hội, truyền thống, nhất là về mặt tự quản và xã hội dân sự.

Sự phát triển xã hội liên quan tới sự hoàn thiện tổ chức xã hội, hoặc sáng tạo nên tổ chức mới, ở đó vai trò xã hội dân sự ngày càng tăng (tự quản, tham gia quản lý, hóa giải giữa cá nhân, gia đình công dân với nhà nước và thị trường…).

- Những sáng tạo và những nhân tố, những giai đoạn của phát triển, quản lý xã hội?

Sự phát triển lĩnh vực xã hội cũng bao hàm những sáng tạo (sáng kiến, phát minh) đột phá với hành động tiên phong để tạo nên tư tưởng mới, tổ chức mới, mô hình mới, vai trò xã hội và công nghệ xã hội mới, xung lực mới, phá bỏ trì trệ, lỗi thời, khái phóng cho phát triển, tức tạo nên biến đổi về chất trong cả thể chế, cơ cấu, chức năng xã hội và hành vi của con người, cộng đồng người.

Phát triển xã hội nói chung có 3 giai đoạn điển hình và 3 nhân tố là tước hết là giai đọan có tính vật lý (phisycal), dựa vào tự nhiên, khái thác tự nhiên là chính tương đương thời kỳ văn minh nông nghiệp, thứ hai là thời kỳ nhân tạo, sự sống (vital) chủ yếu phát triển trong tương tác giữa con người và xã hội, tương dương thời kỳ thương mại, thứ ba là thời kỳ phát triển tinh thần (mental), phát minh sáng kiến tương đươing thời công nghiệp và công nghệ, hậu công nghiệp.

- Một số mô hình phát triển và quản lý xã hội

Ở châu Âu có rất nhiều mô hình phát triển lĩnh vực xã hội, mỗi mô hình một kiểu khác biệt do trình độ phát triển kinh tế xã hội và văn hóa từng nước, hoặc từng thời kỳ cũng như những đặc thù khác nhau mà hình thành nên, hoặc lựa chọn cho thích hợp.

Mô hình Bắc Âu (Đan Mạch, Phần Lan, Thụỵ Điển, Na Uy), dân chủ xã hội, khá toàn diện và phổ quát, chú trọng hệ thống tái phân phối và gắn kết xã hội và các giá trị phổ quát. Lợi ích mô hình này mang tính chất phi hàng hóa, sự hưởng lợi không phụ thuộc vào sự đóng góp. Duy trì hợp tác và đối thoại xã hội với chính phủ, đảm bảo trợ cấp dịch vụ, giảm bất công xã hội trong giải quyết việc làm.

. Mô hình Nghiệp đoàn đại lục (Pháp. Đức Bỉ, Hà Lan, Áo và Thụy Sĩ). Đặt trọng tâm vào giải quyết việc làm, Còn phúc lợi xã hội duy trì ở mức vừa phải. Tái phân phối hệ thống tài chính giảm nhẹ hơn so với mô hình Bắc Âu. Sự đối thọai xã hội còn mang tính nghiệp đoàn.

- Mô hình tự do Anglo-Sanxin (Vương quóc Anh và Ireland). Mô hình này dùe cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân. Thị trường lao động thả nổi tự do. Chuyển giao xã hội thực hiện quy mô nhỏ, tập trung vào nhóm thu nhập thấp. Khuyến khích dịch vụ thị trường, cung cấp dịch vụ từ tư nhân và từ nhà nước. Chính sách tiết kiệm và bảo hiểm được hỗ trợ từ chính sách của nhà nước. Ireland có sự can thiệp của nhà nước mạnh hơn Anh và nước này nhanh chóng trở thành giàu có nhất châu Âu(7).

Chúng ta cần tham khảo kỹ những quan niệm chung và mô hình phát triển lĩnh vực xã hội ở từng nước cụ thể trên đây khi vận dụng cho Việt Nam khi xây dựng lý thuyết và chính sách, mô hình (sẽ trình bày kỷ sau).

5- Phương pháp luận tiếp cận thữ năm: hiểu rõ các vấn đề xã hội của Hội nghị thượng đỉnh về phát triển xã hội (tháng 3-1995 ở Côpenhagen- Đan Mạch): nghĩa là cần có tầm nhìn toàn cầu.

Những nội dung cơ bản về phát triển xã hội tại hội nghị nói trên được tóm tắt ở 4 điểm như sau:

- Thế giới hiện đại, không chỉ là kinh tế thị trường, mà còn là cái gì cao hơn, đó là sự tiến bộ xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống con người; mục đích cuối cùng của tăng trưởng và phát triển là cải thiện đời sống của mọi người.

- Phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn là phát triển xã hội công bằng và tiến bộ.

- Tăng trưởng kinh tế không tự nó giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội và tự nó không dẫn tới công bằng xã hội, tiến bộ xã hội, mà phải có sự điều tiết của xã hội thông qua Nhà nước để phân phối lại những kết quả hoạt động kinh tế theo hướng đảm bảo công bằng xã hội.

- Trung tâm của phát triển là phát triển con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, phát triển của cin người, do con người và vì con người.

Sau đó Hội nghị Thượng đỉnh các nguyên thủ quốc gia các nước đã cụ thể hóa nội dung trên thành 10 điểm, cho đến năm 2000, nhưng vẫn có ý nghĩa lâu dài về sau.

(1) Tạo một môi trường có thể phát triển xã hội; (2) Xóa đói giảm nghèo; (3) Tạo việc làm, thúc đẩy cho mọi người; (4) Xúc tiến hòa nhập xã hội; (5) Bình đẳng và công bằng giữa nam và nữ; (6) Tiếp cận đầy đủ và công bằng với giáo dục và dịch vụ y tế có chất lượng cao; (7) Đẩy nhanh sự phát triển của châu Phi và các nước chậm phát triển nhất; (8) Đưa các mục tiêu phát triển xã hội vào các chương trình điều chỉnh cơ cấu; (9) Tạo nguồn nhân lực phát triển xã hội; (10) Hợp tác quốc tế trong phát triển xã hội. Ưu tiến các lĩnh vực như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và hòa nhập xã hội.

Đến năm 2000, Hội nghị Thượng đỉnh về phát triển xã hội, ở Thụy Sỹ, đưa ra nhận định: rằng tầm nhìn 1995 về phát triển xã hội là đúng các quốc gia ngày càng giành cho phát triển xã hội những ưu tiên lớn hơn các mục tiêu và phát triển chung của mình. Hướng tới tương lai, hội nghị lưu ý và càm kết 6 vấn đề sau đây:

- Tăng trưởng công băng, đặc biệt là tăng trưởng vì người nghèo, phần đấu đến năm 2015 giảm ½ số người nghèo trên thế giới.

- Thúc đẩy tạo việc làm cho người lao động có khả năng lao động và nhu cầu việc làm, tiến tới việc làm có hiệu quả, có năng suất và việc làm được tự do lựa chọn và sau đó là việc làm tử tế (việc làm bền vững có tính nhân văn); tạo nhiều việc làm và cơ hội thu nhập cho phụ nữ và nam giới và an sinh xã hội;

- Mở rộng và tạo cơ hội cho mọi người, nhất là người nghèo, nhóm xã hội yếu thế tiếp cận các dịch vụ công cộng; đặc biệt là các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nước sạch…);

- Mở rộng dân chủ, đặc biệt trong kế hoạch hoạch định chính sách kinh tế, tăng cường trách nhiệm xã hội của các công ty trên cơ sở nâng cao nhận thức về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội;

- Thúc đẩy hòa nhập xã hội nhóm yếu thế, nhất là nhóm bên lề xã hội (người già, người tàn tật, trẻ em có hòan cảnh đặc biệt khó khăn, người nhập cư, phụ nữ là nạn nhân phân biệt đối xử) thông qua phát triển hệ thống đảm bảo phúc lợi xã hội;

- Tăng cường trách nhiệm của các nước phát triển giúp đỡ các nước nghèo và chậm phát triển, nhất là giải quyết vấn đề nợ nước ngoài (8).

Đó là những quan niệm và chiến lược chung phát triển lĩnh vực xã hội mang tính định hướng toàn cầu hiện nay cần được quán triết và cụ thể hóa cho từng quốc gia, từng thời đọan cụ thể. Như vậy, là tùy theo từng nước và từng thời ỳ mà cụ thể hóa hay bổ sung nêu ra nhiều vấn đề cụ thể khác (Ví dụ GSTS. Hoàng Chí Bảo, tại “Hội thảo Phương pháp luận nghiên cứu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội (KX. 92.06/06-10), ngày 9/4/2009 tại TPHCM”, cũng đã nêu thêm 10 vấn đề xã hội, ngoài 10 vấn đề mà Chính phủ ta đã nêu trước đây, cần giải quyết của Việt Nam hiện nay, chẳng hạn).

6- Phương pháp luận tiếp cận thứ sáu: theo góc nhìn triết học phát triển

Chúng tôi muôn làm rõ một số nội dung của lý thuyết phát triển lĩnh vực xã hội và quản lý phát triển ở nước ta cần xây dựng. theo góc nhìn triết học phát triển (9)

Ở đây, xin lưu ý một số điểm:

- Mục tiêu của phát triển lĩnh vực xã hội và quản lý xã hội là gì?

Phát triển xã hội là nhằm tới tiến bộ và công bằng xã hội từng bước từng mức. Tức là mang tới an toàn, an bình, an sinh, an tâm, an hóa của con người và công đồng người. Cụ thể là công ăn việc làm, bảo hiểm xã hội và y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chữa bệnh và có cuộc sống thân ái, đoàn kết, đồng thuận, vui tươi cả vật chất và tinh thần. Đồng thời, đó cũng là quá trình phát huy sáng kiến, chủ động và nâng cao trách nhiệm cá nhân tự giải quyết các vấn đề của mình trong quan hệ với sự hỗ trợ của cộng đồng và Nhà nước.

Quản lý phát triển xã hội là tạo ra môi trường pháp lý, tâm lý xã hội cho sự páht huy các tiềm năng, khát vọng và năng lực cá nhân, cộng đồng thành lực lượng vật chất, lực lượng thực tiễn; đồng thời có chính sách đảm bảo cho việc giải quyết các nhu cầu xã hội, vấn đề xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội trong tiến trình phát triển kinh tế, chính trị. Động lực và chủ thể thị trường giải quyết các vấn đề kinh tế còn vấn đề xã hội, văn hóa thì phải có động lực chính phủ và động lực cồng đồng xã hội (xã hội dân sự) cùng giải quyết có sự hỗ trợ từ các chủ thể thị trường, nêu không hệ quả các vấn đề xã hội sẽ rất nặng nề…

- Chủ thể phát triển xã hội và quản lý, động lực và phương thức biến đổi, phát triển

Con người và cộng dồng xã hội - chủ thể của chính mình - trong quá trình sống là nhăm thỏa mãn các nhu câu sống còn và nhu cầu tự khẳng định, nhu cầu vậy chất và tinh thần, nhu cầu xã hội và nhu cầu cá nhân, nhu cầu đạo đức và thẩm mỹ…, chứ không chỉ duy nhất nhu cầu kinh tế, vật chất. Chính lợi ích nảy sinh từ đó và là động lực trực tiếp của sự phát triển và hoạt động quản lý. Nhưng nó thể hiện dưới hình thức động cơ, tình cảm, khát vọng, ý chí và cả tinh thần nói chung. Là công ăn việc làm là học tập, vui chơi giải trí, quan hệ xã hội tương trợ nhau… Con người và cộng đồng người phải tìm các phương thức thõa mãn nhu cầu kinh tế, xã hội, tinh thần… ấy để phát triển.

Do vậy, phát triển và quản lý phát triển lĩnh vực xã hội cũng phải tìm phương thức, môi trường, tác nhân tạo động lực - động cơ cho phát triển chứ không phải chỉ một chiều ra chính sách, có khi lại tách rời thực tế và nhu cầu của chính cuộc sống, những lợi ích mà cộng đồng theo đuổi. Đó là cái khó nhất và cần thiết nhất. Do vậy không thể cực đoan chỉ lo nhu cầu và phương thức phát triển kinh tế mà không lo nhu cầu và phát triển các vấn đề xã hội, kiểu các dự án (xây dựng khu công nghiệp, thương mại, đô thị) “mang con bỏ chợ”, không quan tâm về chính sách nhà ở, và các dịch vụ xã hội, văn hóa khác, như vừa qua.

- Tiền trình và lĩnh vực. Khủng hoảng- cải cách và phát triển.

Trong quá trình phát triển kinh tế luôn đặt ra, nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột và yêu cầu có sự phát triển xã hội tương ứng và đồng bộ, liên thông tạo hợp lực phát triển. Nhưng từng giai đoạn có những biến đổi và vấn đề khác nhau phải phân tích cụ thể thì mới có chính sách, luật pháp và tác động quả lý có hiệu quả. Cần chú ý là hiện nay về đại thể là chúng ta phát triển lồng ghép và phải trải qua cả 3 giai đoạn: vật chất-vật lý, sự sống - nhân tạo và tinh thần - sáng tạo, vì chúng ta đang có cả trình độ văn minh nông nghiệp, thương mại, công nghiệp và công nghệ cao. Chi nên phải tùy lũnh vực mà giải quyết các vấn đề xã hội cho thích hợp (cho nông dân, công nhân, trí thức, sinh viên…).

Quản lý lĩnh vực xã hội, nhất là những lĩnh vực như chống buôn bán ma túy, và quản lý người cai nghiện, chống tái nghiện, chống mại dâm là lĩnh vực rất phức tạp và lâu dài, cần phải có chính sách đặc thù và phương pháp thích hợp (10)

Hơn nữa khi xã hội có bất thường, rủi ro, khủng hoảng, thảm họa hay ảnh hưởng từ khủng hoảng, cũng như quá trình đang đổi mới, cải cách sẽ có những bất định, xáo trộn, thì phải có đối sách thích hợp. Chỉ có điều là khi yên phải lo khi loạn, khi tĩnh phải lo khi biến và ngược lại, nghĩa là phải có tầm nhìn xa, tầm nhìn liên kết hệ thống và chiến lược phát triển các vấn đề xã hội gắn liền, hợp sức, đồng bộ, liên thông với các lĩnh vực khác.

- Hiệu quả và đánh giá

Trong phát triển kinh tế, ta thường đánh giá kết quả, hiệu quả qua giá trị gai tăng, hay doanh số, hay qua lợi nhuận, tác động đến xã hội,…như thế nào. Nhưng trong phát triển các lĩnh vực xã hội mà lĩnh vực xã hội thực chất là lĩnh vực sống, đời sống, tức ngoài lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực hoạt động chính trị- thì kết quả và hiệu quả của nó là ở tính ổn định xã hội, ở việc nâng cao và đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần, liên quan tới công ăn việc làm, phúc lợi xã hội, sự phát triển và phát huy nhân tố con người, nhân tố xã hội trong phát triển và tác động của các vấn đề xã hội đến phát triển kinh tế, đến chính trị với mức độ nào.

Ngày nay, không chỉ có các thước đo tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế mà còn có, đã có và sẽ có những thước đo về phát triển lĩnh vực xã hội về sức khỏe, giáo dục, tuổi thọ, mức độ khắc phục tệ nạn xã hội, về môi trường sống, mức sống và chất lượng sống, về mức độ phát huy dân chủ, về năng lực phát triển cộng đồng và sinh hoạt cộng đồng…

Cần phải xây dựng các tiêu chí đánh giá và cách đo đạc lĩnh vực phát triển xã hội và quản lý xã hội,

7- Hướng vận dụng và triển khai

Chúng tôi vui mừng và lần đầu tiên lĩnh vực phát triển lĩnh vực xã hội và quản lý phát triển được coi trọng hơn, xứng tầm và có tính độc lập nhất định trước hết là ở góc nhìn lý thuyết, lý luận, như đề tài đang được thực hiện. Nghĩa là không đơn thuần chỉ là chính sách xã hội mà là một vân đề cần coi trọng ngang với kinh tế, văn hóa, chính trị, như quan niệm của Hồ Chí Minh. Nhưng đúng là từ lý thuyết đến thực tiễn còn phải trải qua nhiều đoạn đường gập gành, đường chưa ra đường, trắc trở thậm chí chưa có lối đi, chưa có cầu qua. Người đi thì vừa dò vừa bước có khi người này cản lối người kia.

Nhưng dầu sao, con đường phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đang được mở rộng.

Để có thể đưa ý tưởng, lý luận vào thực tế cần phải:

- Trước hết là xây dựng một hệ thống quan điểm có tính lý thuyết và phương pháp luận về phát triển lĩnh vực xã họi và quản lý lĩnh vực xã hội cho Việt Nam ngày nay trên cơ sở khoa học và tư duy triết học hiện đại, có tính đến các bài học lịch sử .

- Tổng kết sâu sắc, có hệ thống hơn về thực tiễn của các vấn đề xã hội, những vấn đề an sinh xã hội những chủ trương và chính sách phát triển và quản lý xã hội vừa qua. Tổ chức nghiên cứu mô hình các nước và phát triển và quản lý phát triển và quản lý lĩnh vực xã hội theo tư duy đổi mới.

- Từ đó đổi mới sâu sắc, cơ bản hơn, toàn diện hơn về tư duy, nhận thức sâu rộng trong các cấp lãnh đạo, các tổ chức kinh tế, chính trị và xã hội, tất cả công dân ở nước ta, khắc phục cho kỳ được việc coi thường, coi nhẹ và tách rời, làm mất cân đối khá nghiêm trọng giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, văn hóa, môi trưòng sống như hiện nay.

- Đổi mới và đưa vấn đề phát triễn – quản lý lĩnh vực xã hội vào Cương lĩnh sửa đổi (2011) để ngang tầm với lĩnh vực khác và nâng lên tầm tư duy quản lý hiện đại. Từ đó xây dựng chiến lược và chính sách, luật pháp cho lĩnh vực phát triển và quản lý xã hội cho từng thời kỳ, nhất là hiện nay.

- Xây dựng “mạng lưới phát triển xã hội” gồm mạng tổ chức- nhân sự công tác xã hội, phát triển và quản lý xã hội, một cách quy chuẩn và tâm huyết. Ngoài hình thức tổ chức chính thức mang chức năng quản lý nhà nước như hệ thống Bộ Lao động- Thương binh và Xã hợi, thì cần khuyến khích hệ thống xã hội phi chính thức, nhất là hệ thống xã hội dân sự đủ sức quan tâm, giải quyết, tự quản, phát triển và tham gia quản lý lĩnh vực này.

- Xây dựng các dự án phát triển và quản lý xã hội (vừa có tính lồng ghép vừa có tính riêng biệt, tùy trường hợp, lĩnh vực), có sự hợp tác giữa xã hội dân sự và nhà nước và giữa tổ chức trong nước với tổ chức NGO ở nước ngoài.

- Tập trung sức giải quyết những vấn đề xã hội nóng bỏng hiện nay.

Rõ ràng là thay đổi nhận thức, nâng cao vai trò, vị thể của lĩnh vực phát triển và quản lý xã hội trong tương quan với phát triển kinh tế là rất quan trọng. Có nhận thức như vậy mới có sự thay đổi về thể chế, cơ chế và sự tiến triển trong thực tế theo hướng phát triển nhân văn hóa

Hội thảo Phương pháp luận nghiên cứu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội (KX. 02.06/06-10) đã gợi mở thêm nhiều khía cạnh về vế lý thuyết quản lý phát triển xã hội hiện đại, nhất là đổi mới tư duy vể quản lý vĩ mô (quản lý gián tiếp), phân biệt quản lý trung và vi mô, trong đó quản lý vĩ mô (quản lý trực tiếp), chủ yếu là hình “quản trị điều hành”- tức điều hành của chính phủ nhất thiết phải có / thông qua sự giám sát của cộng đồng xã hội, phù hợp với xã hội dân chủ dựa trên nền kinh tế thị trường khác với xã hội khép kín thời kinh tế tập trung bao cấp (11).

Như vậy, quản lý lĩnh vực xã hội trở thành nhân tố phát triển nội tại chứ không chỉ tác nhân bên ngoài[3].

*****
Chú thích:
[1] Điều này càng quan trọng khi nghiến cứu, xử lý các tình huống bất thường. (Xem thêm: Kỷ yếu Hội thảo Quản lý phát triển xã hội trong tình huống bất thuồng ở nước ta hiện nay, cơ sở lý luận và thực tiễn, của chương trình KX.02/11-15, đề tài kx 02/14/11-15, Học viện hành chính, TPHCM, 11/2014, Chủ nhiệm đề tài GS.TS Nguyễn Hữu Khiển.
[2] Nguồn: Triết lý văn hóa & Triết luận văn chương, Cập nhật lần cuối: 10/02/2009 11:48:29 AM, Chungta.com.
[3] Tài liệu tham khảo:
1- Tạp chí Lý luận chính trị, 1/2009)
2- Giáo sư - Viện sĩ Đào Thế Tuấn, Báo Nông Thôn ngày nay, Chungta.com, cập nhật lần cuối: 12/03/2009 02:01:27 PM
3-Khiếu nại, tố cáo: Đất đai tiếp tục “nóng”, Vietnamnet, 20:15' 03/07/2008 (GMT+7)
4- Xem thêm Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Vấn đề dân sinh và quan niệm xã hội hài hòa”, tại TP Vinh, tháng 11-2008.
5- Xem thêm Hoàng Ngọc Hiến, Quản lý xã hội hiện đại dưới ánh sáng của “khoa học mới” và tư tưởng Khai sáng, Triết lý văn hóa & Triết luận văn chương. Chungta.com, 09:11' AM - Thứ ba, 10/02/2009).
6- Theo sách: Tư duy lại khoa học (Re-thinking science), tác giả: Helga Nowotny, Peter Scott, Míchael Gibbons. Dịch giả: Đặng Xuân Lạng, Lê Quốc Quýnh Nhà xuất bản: Tri thức Năm xuất bản: 2009. chungta.com, 04:40' PM - Thứ năm, 26/02/2009.
7- Xem thêm bài viết của GSTS. Nguyễn Duy Khoát, Trần Mỹ Hạnh, TS, Bùi Nhật Quang, trong Hội thảo “Phát triển kinh tế và phát triển xã hội ở châu Âu” (KX. 01.04/06-10, KX 02.13/06 -10) của Viện Nghiên cứư châu Âu và khoa Lịch sử trường đại học KHXH-NVTPHCM tại TPHCM, 11-2008.
8- Theo TS. Lê Duy Đồng, Một số vấn đề phát triển xã hội ở Việt Nam , Tạp chí Lao động xã hội, só 343 +344 (tháng 9 và 10/2008), tr. 64.
9- Hồ Bá Thâm, Tư tưởng Hồ Chí Minh và triết học phát triển, Nxb. Ti63ng hợp TPHCM, 2007.
10- Xem Hồ Bá Thâm, Trần Nhu: Quản lý, dạy nghề và giáo dục phục hồi nhân cách cho người sau cai nghiện ma túy, từ kinh nghiệm TPHCM, Nxb. Lao động xã hội, Diễn đàn phát triển Việt Nam, 2007).
11-Hội thảo Phương pháp luận nghiên cứu phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội (KX. 92.06/06-10), ngày 9/4/2009 tại TPHCM.
12- Hồ Bá Thâm, Bàn về mâu thuẫn xung lợi ích hiện nay, Nxb. CTQG, 2011.
13- Hồ Bá Thâm, chủ biên, Mâu thuẫn xung đột lợi ích nhóm, thực trang, xu hướng và giải pháp, Nxb CTQG, 2011.
14- Kỷ yếu Hội thảo Quản lý phát triển xã hội trong tình huống bất thuồng ở nước ta hiện nay, cơ sở lý luận và thực tiễn, của chương trình KX.02/11-15, đề tài kx 02/14/11-15, Học viện hành chính, TPHCM, 11/2014, Chủ nhiệm đề tài GS.TS Nguyễn Hữu Khiển.



Vấn đề - Sự kiện: Lại bàn về giám sát và phản biện


Nhớ lại một lần dường như đã nhiều tháng, bên hành lang cuộc họp Mặt trận, mấy nhà báo hỏi về giám sát và phản biện. Trêu chọc mấy nhà báo trẻ, bảo hộ chỉ cần viết: Ai giám sát, giám sát ai, giám sát cái gì, giám sát xong thì nói với ai? Phản biện cũng vậy: Ai phản biện, phản biện cái gì, rồi người nào tiếp nhận phản biện. Nói là trêu chọc họ, chứ thực ra trong đầu cũng có chút ít băn khoăn!

Cụm từ giám sát và phản biện thời gian gần đây đã trở thành câu nói cửa miệng của nhiều người ở mọi miền đất nước. Thực ra giám sát và phản biện vốn là một khái niệm đặc trưng của nền dân chủ, mà ta thường gọi là Dân chủ xã hội chủ nghĩa. Khi giám sát và phản biện được đề ra trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp quy của nhà nước, mọi người đều thấy hứng khởi và tràn đầy hi vọng: song, người ta lại băn khoăn vì những giá trị tốt đẹp trong các văn bản chưa được thể hiện trong thực tế đời sống hàng ngày. Nên chăng, ta không chỉ đặt giám sát và phản biện trong khung cảnh đất nước, mà thử đặt nó trong bối cảnh thế giới đương đại.

I. Nhìn tổng thể, trong thế giới mà hầu như không có khu vực nào, ở nhiều quốc gia đã phát triển và đang phát triển không ít những biến động, biểu tình có, bãi công có, thậm chí bom rơi đạn nổ, kể cả những cuộc chém giết như thời Trung cổ được đăng tải trên các phương tiện truyền thông; đặc biệt là trên các mạng điện tử, không phải hàng ngày mà là hàng giờ. Lại còn tình trạng các liên minh thời kỳ biến động, liên minh lại có thực, có giả, nhưng tranh chấp lại là có thật. Một dạng thức chiến tranh lạnh kiểu mới trong thời đại mới. Thời chiến tranh lạnh cũng bùng lên một số ít điểm nóng cục bộ, nhưng trong chiến tranh lạnh kiểu mới, những điểm nóng lan toả hầu như ở khắp mọi nơi. Chưa có một thế lực nào, dẫu dưới dạng liên minh tạm thời không những không dẹp bỏ được những điểm nóng mà còn lan toả với cường độ ngày càng cao. Hết rồi, không còn ảo tưởng bằng một thế lực đơn cực có thể hô mưa gọi gió, tự mình quyết định cho nơi này nơi khác, phải áp đặt một thể chế từ mệnh lệnh của sở chỉ huy. Ông Obama đang còn bộn bề chưa giải quyết xong bất cứ điểm nóng nào ở mọi nơi, lại phải đương đầu với phe Cộng hoà đã trội dậy. Tổng thống Hoa Kỳ phải đối đầu với lưỡng viện do phe Cộng hoà kiểm soát, lại còn một loạt thống đốc bang thuộc phái Cộng hoà. Trong nửa nhiệm kỳ còn lại, khó còn nghe tiếng nói đanh thép của Obama. Sau một thời gian “chìm lắng”, Liên bang của ông Putin và ông Medvedev giữ chút mềm mỏng để đương đầu quyết liệt với cả Tây Âu, NATO và Mỹ. Ông Putin một mặt đề cao Hội nghị cấp cao Minsk, vừa mạnh dạn chìa tay về phía Bắc Kinh. Dẫu là Nga – Trung tồn tại mâu thuẫn, nhưng liên minh Moskva - Bắc Kinh tạo cho cả Nga và Trung Quốc tiềm lực mới. Bàn tay của Putin không chỉ vươn tới Bắc Kinh, mà chĩa sang tận Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản, ông Putin cũng không quên sự trỗi dậy của hơn 1 tỷ người dân Ấn Độ và sự trở lại của mối quan hệ lịch sẳ New Deli – Moskva. Xin tóm lại một câu: Một thế giới đầy biến động trên nền tảng kinh tế suy thoái, dịch bệnh lạ và nỗi lo biến động khí hậu toàn cầu.

Trong một thế giới được tranh biện với các quan điểm khác nhau như vậy, ta không thể không vui lòng với một Việt Nam hơn 90 triệu dân, dẫu không tránh khỏi những ảnh hưởng từ bên ngoài vẫn được sống trong một trạng thái ổn định về chính trị, xã hội, một vị thế quốc tế và quan hệ đối ngoại ở tầm cao chưa từng có trong 4000 năm lịch sử. Hậu quả của hơn 40 năm chiến tranh chưa được khắc phục hoàn toàn, nền kinh tế và thu nhập quốc dân vẫn nằm trong giới hạn trung bình thấp mà vẫn phải dành sức tăng cường quốc phòng, an ninh để giữ vững độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Ba mươi năm đổi mới đang được tổng kết. Có lẽ giám sát và phản biện cũng cũng cần được tổng kết, dẫu nó chỉ có tuổi còn nhỏ chứ không phải 30 năm. Thực ra ta còn đang phấn đấu để tìm lời đáp cho mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đương nhiên không dễ dàng có lời giải trọn vẹn cho dân chủ hoá xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta cực kỳ tốt và thuần hậu, nhưng hậu quả xấu của nền kinh tế thị trường đã tác động không nhỏ đến hình thái tổ chức xã hội và không ít cá nhân có chút quyền lực. Giám sát và phản biện dẫu quan trọng chỉ là một bộ phận trong tổng thể chiến lược đấu tranh lâu dài để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy giám sát và phản biện có nội hàm riêng, trong nhiều trường hợp phải được thực hiện theo cơ chế riêng của mình. Đặc biệt trong các chức năng của Hội đồng tư vấn của Mặt trận; nhưng dẫu sao cũng không nên đánh giá tách bạch giám sát và phản biện. Ngay lúc này đây, trong tất cả các phiên họp toàn thể hoặc tổ của kỳ họp Quốc hội đang diễn ra, hầu như thể hiện dày đặc chức năng giám sát và phản biện từ một việc cụ thể, như: xây dựng sân bay Long Thành, cho đến những vấn đề lớn như kế hoạch kinh tế xã hội của chính phủ, những chỉ tiêu và định hướng lớn, về nợ công, nợ xấu và các hạng mục thuế cho đến những văn bản pháp quy chưa sát thực với tình hình đời sống xã hội, đến cả chức năng, nhiệm vụ của người đứng đầu Chính phủ và các Bộ trưởng. Tại sao thành phố Hồ Chí Minh đề nghị một cơ chế đặc thù áp dụng cho địa phương mình và cả cho địa phương khác về phương sách đối với những người nghiện ma tuý. Thật có lý, khi Hiến pháp và các văn bản luật, nghị định, thông tư nhằm bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Không chỉ nhân dân trong nước và bầu bạn thế giới đều đánh giá cao về quyền con người trong Hiến pháp và các văn bản pháp quy của Việt Nam. Tuy nhiên, khi bắt tay vào thực hiện thì vướng ngay đối tượng nghiện ma tuý. Đúng là chỉ có toà án mới có quyền quyết định về những người nghiện ma tuý phải được tập trung cai nghiện. Nhưng để tuân theo các quy trình thủ tục, thì số người nghiện ma tuý tăng nhanh. Các trại cai nghiện được bỏ trống, trong khi người nghiện khôgn cần né tránh mà dám công khai châm, trích ngay cả ở lề đường cái lớn. Chỉ mấy tháng đầu năm 2014 mà đã có tới 7 ngàn “con nghiện” vô gia cư tụ tập tại thành phố Hồ Chí Minh, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền con người của cả cộng đồng. Có hàng chục vấn đề được thẳng thừng đặt ra trình Quốc hội và người ta phải chờ đợi phán quyết chính xác của cơ quan quyền lực cao nhất. Quốc hội mang đậm nội dung tinh thần của giám sát và phản biện, nhưng không được coi đây là giám sát và phản biện. Bởi lẽ, Quốc hội nhận được hàng loạt ý kiến từ giám sát của các đại biểu, bao gồm cả những điều quan trọng đã được đề cập trong báo cáo của Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhưng Quốc hội từ những điều giám sát được thể tranh biện. Quốc hội không phải là nơi phản biện, mà là tranh biện để cuối cùng sử dụng quyền lực ra những quyết định sát hợp nhất.

Tuy nhiên, không chỉ Quốc hội mà ở hàng loạt các cuộc hội thảo đã đang và đang được tổ chức khắp cả nước. Ta đã nghe những cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học và các cơ quan chức năng nhà nước vạch rõ những điểm yếu không tạo đủ điều kiện để ứng dụng các công trình nghiên cứu vào thực tế đời sống kinh tế xã hội. Lại nữa, cuộc thảo luận thấu tình đạt lý giữa các doanh nhân, đặc biệt là giữa các doanh nhân nhỏ và vừa với những người có trách nhiệm về công cuộc khôi phục và phát triển của các doanh nghiệp trong nước. Ở các cơ sở lại diễn ra các cuộc thảo luận về vai trò của các ban mặt trận. Những ngày vừa qua, lãnh đạo cấp cao của Đảng đi đến nhiều địa phương để lắng nghe những ý kiến, để hoàn chỉnh văn kiện Đại hội lần thứ XII mà phải gần 2 năm sau mới diễn ra. Các ông Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Thiện Nhân nhân dịp ngày hội Đại đoàn kết dân tộc đã đi tới các huyện, xã, thôn và gia đình cùng trao đổi với nhân dân những điều hơn lẽ thiệt để xây dựng các khu công nghiệp và thúc đẩy chương trình nông thôn mới. Ông Nguyễn Xuân Thúc tới các hội nghị các địa phương nhân ngày hội hiến pháp và pháp luật để lắng nghe, diễn giải về ý thức thượng tôn pháp luật. Nếu kể ra thì còn nhiều nhiều nữa, nhưng rút cục lại chỉ là nhằm tìm ra mô hình dân chủ hoá xã hội chủ nghĩa cho một loại hình dân tộc mà chưa từng có trong lịch sử thế giới.

II. Không chỉ có điều thuận, còn hàng trăm ngàn hiện tượng không mong muốn vẫn tiếp diễn trong cả nước. Khi Nghị quyết Trung ương IV công bố, các tầng lớp nhân dân đều hoan hỉ trước thái độ chân thành và mong muốn tốt đẹp của Đảng. Nói Nghị quyết IV vẫn còn đọng trên văn bản thì cps phần quá đáng, nhưng thực tế tinh thần và nội dung của Nghị quyết chưa thể hiện được bao nhiêu trong cuộc sống thực tế, sự hồ hởi của nhân dân và nhiều đảng viên đã không còn được như thuở ban đầu. Nhiều lời phản bác công khai về cách thức thực hiện nghị quyết và không ít những tiếng chép miệng thở dài. Hầu như ở mọi miền đất nước, đâu đâu cũng còn những tình trạng bất công, những việc xử lý chưa thoả đáng, tình trạng bao che, quan liêu, tham nhũng ,có cả những nỗi oan ức kéo dài. Ngay giữa Thủ đô Hà Nội cũng khó thống kê hết những đơn từ khiếu nại, dẫu có đúng có sai vẫn chứa đựng thái độ bất bình đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Chỉ riêng việc khu dân cư Đầm Hồng (Hà Nội), không xa trụ sở Thành uỷ Hà Nội, hàng ngàn người dân có cả cựu chiến binh và thương binh nặng làm ăn sinh sống trên đất Thủ đô đã mấy chục năm vì một bản án chưa thật chuẩn xác, xử những người có tội lại kéo theo hàng trăm hộ dân vô can lại chịu thiệt thòi và ấm ức. Nhà dột nát không được phép sửa chữa, bầy trẻ phải đi học trái tuyến và đương nhiên người bệnh cũng trái tuyến. Đơn khiếu nại đến tận Quốc hội, mà thực ra với quyền lực và trách nhiệm trước nhân dân của mình, các ông Phạm Quang Nghị và Nguyễn Thế Thảo hoàn toàn có những quyết sách không trái pháp luật để tránh nỗi khổ cho người dân. Chỉ cần đi vòng một lượt tới các địa phương lắng nghe người dân giám sát hộ những văn bản, những quyết định, những kết luận trái Hiến pháp và pháp luật. Từ những đơn từ khiếu nại, đã có thể sàng lọc ra biết bao điều đáng và cần phản biện. Nhưng, dù những phản biện chính xác dựa trên những giám sát thực tế, thì ai tiếp nhận và xử lý những phản biện đó. Cần phải gỡ bỏ nhiều cơ chế, nhiều quy định chưa hợp lý trong quản lý hành chính, đặc biệt cần cải tạo và bồi dưỡng những cán bộ có quyền lực và có trách nhiệm, sao cho họ gần dân hơn, sát dân hơn, biết lắng nghe dân và thông cảm nỗi khổ của người dân. Cần có thêm thời gian cùng với những cuộc đấu tranh, như có lần Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thổ lộ với những người quen cũ: Còn nhiều khó khăn lắm, trải qua một cuộc đấu tranh lâu dài Nghị quyết Trung ương lần thứ IV mới có thể làm đúng được như tinh thần và nội dung của Nghị quyết. Gần đây có hai hiện tượng làm đẹp lòng người: Một là, người ta nắm được tình hình ở nhiều vùng dân tộc ở các bản làng vùng sâu, vùng xa đau ốm không được trị bệnh, có bà già trên 70 tuổi cả đời chưa biết đến thầy thuốc và bệnh viện, bầy trẻ nhỏ chưa hề được tiêm chủng; Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế đã tổ chức cho hàng ngàn bác sĩ và điều dưỡng kể cả những giám đốc viện lớn, những thầy thuốc đầu ngành lần lượt đến từng vùng khám chữa bệnh, tặng thuốc, tặng quá. Niềm hạnh phúc đến với cả chục ngàn người. Hai là, Tập đoàn viễn thông Viettel được phép Bộ Quốc phòng đã trích ra 270 tỷ đồng dành hỗ trợ 2.600 xã nghèo. Đương nhiên, còn bao việc tốt, người tốt đi đôi với người xấu, chuyện tiêu cực diễn ra ở mọi miền đất nước!

Giám sát và phản biện ư? Nếu thu gọn trong phạm vi các hội đồng tư vấn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì rất dễ có nội hàm và hiệu quả. Nhìn toàn cục thì giám sát và phản biện là phải từ đông đảo nhân dân và những đảng viên trung thực, bao gồm cả các ban mặt trận cơ sở. Tuy nhiên, để có đủ khả năng giám sát và phản biện cần phải có sự hiểu biết đầy đủ về thực tế, những yêu cầu và khả năng đáp ứng yêu cầu. Cần hơn cả lại là sự thay đổi cơ chế và tổ chức quản lý cùng với những con người ít nhiều thấm nhuần đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh mới có thể tổng hoà tinh thần giám sát và phản biện trong mô hình dân chủ hoá theo Hiến pháp 2013. Cần có thời gian và cuộc đấu tranh bền bỉ. Phải chăng chỉ có thời gian và cuộc đấu tranh toàn diện mới có điều kiện để nội hàm giám sát và phản biện được thể hiện đầy đủ và có hiệu quả.

Đỗ Phượng



Thông tin từ ISSTH

Thông tin tổng hợp

Kho số liệu của ISSTH

Diễn đàn trí thức

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Đào tạo

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn