23-07-2014

Thơ tình: Bình yên nhé, em cứ về nơi ấy


Bình yên nhé, em cứ về nơi ấy
Cuối con đường anh lặng lẽ chờ em
Bình yên nhé, em cứ về nơi ấy
Đêm lạnh rồi, sương cũng bắt đầu rơi
Nếu có buồn, cũng đừng khóc em nhé
Hãy cứ vui và mỉm cười khe khẽ
Ở nơi này anh nhớ lắm một tình yêu!
Vẫn một mình một bóng lúc về đêm
Vẫn nhớ nhung hy vọng em quay lại
Ngày em đi nửa hồn anh chết lặng
Đành trở về sống năm tháng cô đơn!
Mưa cuối thu, đêm về lạnh lắm em
Man mác buồn, thương dáng em nhỏ nhắn
Chiếc áo mỏng không che em đủ ấm
Trời lạnh rồi, đông sắp về đó em!
Xa nhau rồi xin hãy nhớ nhé em
Buồn hay vui ngày bên nhau hạnh phúc
Anh vẫn mong một ngày em quay lại
Sống trọn đời sưởi ấm hai trái tim.
Đêm nối ngày, ngày lại tiếp nối đêm
Nỗi nhớ không tên cứ dày vò anh mãi
Khi con phố đã tắt đèn đi ngủ
Một mình anh với nỗi nhớ chơi vơi
Mình xa nhau khi ấy trời vào thu
Và nay đông đã sắp về trên phố
Cây vẫn hát, cành rung rinh trong gió
Chiếc lá vàng nhộm màu sắc thời gian
Bản tình ca cây và lá cuối thu
Cây rủ buồn tiễn lá đi theo gió
Phố mùa này vẫn đông vẫn nhộn nhịp
Em không qua, phố bỗng hóa u sầu
Trong men buồn, bước trên phố đông
Tha thiết gọi em trong chiều nhạt nắng
Xa em rồi anh thấy mình cần hơn
Phút bên em dù chúng mình giận dỗi.
Ánh mắt nào em tìm anh bối rối
Lời nhẹ nhàng bên nhau mãi nhé anh
Tan vỡ rồi giấc mộng xưa dịu êm
Dù cố gắng chẳng thể nào níu lại
Bình yên nhé, em cứ về nơi ấy
Cuối con đường anh lặng lẽ chờ em.


Theo Xã luận





Cụ bà cao tuổi nhất Việt Nam có thể cao tuổi nhất thế giới

Cụ Nguyễn Thị Trù 121 tuổi, hiện đang sinh sống tại huyện Bình Chánh, TPHCM được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận là cụ bà cao tuổi nhất Việt Nam và có khả năng trở thành cụ bà cao tuổi nhất thế giới.

Qua xác minh, hiện nay kỷ lục Cụ bà cao tuổi nhất Việt Nam là cụ Nguyễn Thị Trù (sinh ngày 04/5/1893) - vừa bước qua 121 tuổi hiện đang sinh sống trên địa bàn xã Đa Phước, huyện Bình Chánh,TPHCM.

Năm 2011, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã công nhận cụ Nguyễn Thị Trù là Cụ bà cao tuổi nhất Việt Nam.

Chiều ngày 22/7/2014, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam trao bằng xác lập kỷ lục và huy hiệu Kỷ lục Việt Nam đến cụ Trù với mong muốn tri ân và kính chúc cụ sống lâu hơn nữa cùng con cháu.

Trước đây, cụ Trù từng chia sẻ bí quyết sống lâu rất giản đơn, đó là ăn đúng bữa, biết thương yêu giúp đỡ mọi người, sống thoải mái để tâm hồn được thanh thản. Cụ sinh được 11 người con nhưng đến nay chỉ 4 người còn sống. Hiện cụ đang ở cùng gia đình người con trai út, người con trai này năm nay đã 72 tuổi.

Theo ghi nhận của Tổ chức Guinness Thế giới, kỷ lục về cụ bà cao tuổi nhất hiện nay là cụ Misao Okawa tại Nhật Bản - 116 tuổi. Do đó, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam sẽ chịu các chi phí liên quan để đề xuất xác lập kỷ lục cho Cụ bà cao tuổi nhất đến Tổ chức Kỷ lục Châu Á và Tổ chức Kỷ lục thế giới. Đồng thời, trong thời gian tới, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam sẽ tiếp tục tìm kiếm và công bố các kỷ lục về Cụ ông cao tuổi nhất, Cặp vợ chồng cao tuổi nhất và Cặp song sinh cao tuổi nhất Việt Nam.

Hồng Nhung



Mỡ thừa gây hại cho cơ thể như thế nào?


Béo phì không chỉ là những lớp mỡ quanh đùi và eo mà hậu quả nặng nề nhất là ở những nơi ta không nhìn thấy và cũng thường là không nghĩ tới. Dưới đây là 5 cơ quan bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi béo phì.


1. Tim


Mô mỡ thừa trong cơ thể cũng cần có ô xi để sống. Điều này có nghĩa là tim sẽ phải huy động thêm các mạch máu để đưa máu giàu ô xi tới những mô này.

Ngoài ra, càng nhiều mỡ tích tụ bên trong động mạch thì động mạch sẽ càng cứng. Thành mạch máu dày hơn khiến cho khoảng lưu thông của máu càng trở nên hẹp lại, vì thế để duy trì cùng một áp lực tim sẽ phải làm việc vất vả hơn.

Xơ vữa động mạch - tình trạng cứng của thành động mạch - hay gặp ở người béo phì hơn gấp 10 lần so với người khỏe mạnh.

Không còn nghi ngờ gì nữa: tim sẽ chịu ảnh hưởng nặng nhất từ bệnh béo phì. Bản thân cơ tim phải làm việc vất vả hơn; nguy cơ huyết khối tăng cao; và nhìn chung tuần hoàn máu trong khắp cơ thể đều bị ảnh hưởng.

2. Đại tràng


Các nhà nghiên cứu chưa thấy mối liên quan mạnh mẽ giữa béo phì và đa số các bệnh ung thư - ngoại trừ ung thư đại tràng. Ở cả nam và nữ bị béo phì, ung thư đại trực tràng đều hay gặp một cách đáng ngạc nhiên. Có thể có 2 lý do giải thích cho tình trạng này.

Lý do thứ nhất bao gồm chế độ ăn nhiều thịt chế biến sẵn và thịt đỏ, một yếu tố hay gặp ở bệnh nhân bị polyp đại tràng – dấu hiệu sớm tiềm tàng của ung thư đại tràng.

Yếu tố thứ hai là tăng nồng độ insulin hoặc các yếu tố tăng trưởng liên quan với insulin. Vẫn chưa rõ chính xác tại sao những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh ung thư. Nhưng căn cứ vào mối liên quan phức tạp giữa hệ tiêu hóa và các rối loạn miễn dịch – 70% vi khuẩn của cơ thể sống trong ruột – nên những tác dụng phụ của béo phì có thể giải thích cho mối liên quan này, ít nhất là phần nào.


3. Não


Mối liên quan giữa cơ thể và trí óc không phải là mới, nhưng khoa học vẫn đang tiếp tục bổ sung. Nghiên cứu năm 2010 thấy rằng chức năng nhận thức có mối liên quan nghịch với béo phì trên các thông số.

Một giả thiết được đưa ra là sự thoái hóa của chất trắng xung quanh các sợi thần kinh trong não, nơi gửi tín hiệu tới các cơ quan.Lớp vỏ chất trắng này được thấy là bị tổn thường nhiều hơn ở não của người bệnh béo phì.


4. Da


Rất dễ quên mất là béo phì có thể gây tổn thương da đến mức nào, và trái với quan niệm thông thường, những tác hại về thẩm mỹ như vết rạn da không phải là hậu quả duy nhất.


Sự thay đổi về hoóc môn có thể gây bệnh gai đen - một bệnh khiến da dày và sạm đen; da bị sưng và giãn có thể gây đỏ và kích ứng - gọi là viêm da ứ máu; và chức năng tĩnh mạch kém có thể dẫn tới loét, hay gặp nhất ở cổ chân là hậu quả của thiếu máu.


Việc duy trì làn da khỏe mạnh không chỉ là vấn đề thẩm mỹ. Lớp ngoài của da là rào chắn cơ bản nhất ngăn cách với dòng máu, có nghĩa đây cũng là “người canh cửa” đối với các mầm bệnh. Lớp da che phủ bị kéo giãn có thể đưa tới những bệnh rất nghiêm trọng mà nguyên nhân là do khối cơ thể đã vượt quá khả năng đàn hồi của da.


5. Phổi


Giống như các động mạch xung quanh tim, phổi phải đối mặt với nguy cơ lớn khi có mỡ thừa. Nghiên cứu năm 2010 cho thấy lượng mô mỡ lớn sẽ làm giảm dung tích của phổi. Bản thân tình trạng này gây nguy cơ thông khí phổi kém đáng kể, đồng thời làm nặng thêm các bệnh hô hấp đang có hoặc gây ra những tác dụng phụ ngay cả ở người không bị bệnh.


Chức năng phổi kém có nghĩa là các mạch máu không nhận được đủ ô xi. Tương tự, người béo phì có nguy cơ bị chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn cao hơn nhiều do với người không béo phì, càng hạn chế lượng ô xi mà cơ thể nhận được. Thở ban ngày đã khó, ban đêm tình trạng suy hô hấp có thể khiến người bệnh đột tử. Các nhà khoa học đang nghiên cứu một thiết bị phát những xung điện nhỏ vào lưỡi để giải phòng chỗ tắc nghẽn mà không làm cho người bệnh thức giấc.


Cẩm Tú

Theo Medical Daily



Món quà lớn nhất là tình yêu



Một phụ nữ bước ra khỏi nhà và nhìn thấy ba ông lão với bộ râu cằm thật dài đang ngồi phía trước sân nhà cô. Cô không quen biết họ.

Cô nói, “tôi không nghĩ tôi quen biết các ông, nhưng vì các ông đang đói. Vậy hãy vào nhà tôi và ăn một chút gì đó”.

“Người đàn ông của cô có ở trong nhà không?” Họ hỏi.

“Không, cô đáp, ông ấy đang ra ngoài”.

“Vậy thì chúng tôi không thể vào được”, họ đáp.

Vào buổi chiều , khi người chồng bước vào nhà. Cô thuật lại cho anh nghe câu chuyện đã xảy ra.
“Vậy hãy đi ra nói với họ là anh ở nhà và mời họ vào nhà”, người phụ nữ bước ra và mời các ông lão vào nhà.

“Chúng tôi không vào nhà cũng một lượt đâu”, họ đáp.

“Tại sao vậy?” Người phụ nữ muốn biết lý do.

Một trong ba cụ giải thích: “Tên ông ấy là Giàu Sang”, ông vừa nói vừa chỉ vào một cụ khác. “Ông kia là Thành Đạt, còn tôi là Tình Yêu”. Rồi ông nói thêm: “Bây giờ cô hãy đi vào nhà và tranh luận với chồng cô xem thử cô muốn vào nhà với người nào trong chúng tôi”.

Người phụ nữ bước vào nhà và nói với chồng điều cô nghe. Chồng cô rất vui mừng, “Thật là quý hóa!” Anh nói “Vì đây là cơ hội may mắn, chúng ta hãy mời ông Giàu Sang. Hãy mời ông ta vào để ông làm cho ngôi nhà chúng ta tràn đầy của cải”.

Vợ anh không bằng lòng: “Anh ơi, tại sao chúng ta không mời ông Thành Đạt?”

Cô con dâu của hai vợ chồng lắng tai nghe từ bên kia góc phòng. Cô tham gia vào câu chuyện với lời góp ý: “Mời ông Tình Yêu không tốt hơn hay sao? Ngôi nhà chúng ta rồi sẽ tràn đầy tình yêu!”

“Chúng ta hãy nghe theo lời khuyên của con dâu chúng ta”, người chồng liền nói với vợ. “Hãy đi ra và mời ông Tình Yêu làm người khách.

Người phụ nữ đi ra và hỏi ba ông cụ: “Ai trong các ông là Tình Yêu? Hãy đi vào nhà và trở thành khách của chúng tôi”.

Ông Tình Yêu đứng dậy và bắt đầu đi bộ về phía ngôi nhà. Cả hai ông cụ kia cũng đứng lên và theo sau ông Tình Yêu. Rất đổi ngạc nhiên, người phụ nữ liền hỏi ông Giàu Sang và ông Thành Đạt: “Tôi chỉ mời ông Tình Yêu, tại sao hai ông lại cùng vào?” Một ông cụ liền đáp: “Nếu cô mời ông Giàu Sang hoặc Thành Đạt, hai người trong chúng tôi sẽ ở ngoài, nhưng vì cô mời ông Tình Yêu, cho nên nơi nào ông ta đi, chúng tôi cũng sẽ đi với ông ta. Nơi nào có Tình Yêu, thì nơi đó cũng có Giàu Sang và Thành Đạt.

Tác giả: Vô Danh
Bản tiếng Việt: Kim Ngân



Công tác dân số - Phát huy lợi thế của dân số 90 triệu người


Việt Nam đã bước vào giai đoạn nhân khẩu học mới từ năm 2007 - giai đoạn dân số vàng. Đây là một cơ hội có một không hai trong lịch sử nhân khẩu học, nếu chúng ta tận dụng tốt chắc chắn rằng Việt Nam sẽ sớm hội nhập vào các nước phát triển trên thế giới. Nhân dịp này, phóng viên báo GD&TĐ đã phỏng vấn Bác sỹ Mai Xuân Phương - Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông - Giáo dục (Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế) về vấn đề dân số vàng của Việt Nam hiện nay.


Ngày 1/11/2013, dân số Việt Nam tròn 90 triệu người. Con số này có ý nghĩa như thế nào đối với người làm công tác DS-KHHGĐ, thưa ông?

Thời khắc 2 giờ 45 phút ngày 1/11/2013 đã đi vào lịch sử phát triển nhân khẩu học cũng như lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam với sự ra đời của công dân thứ 90 triệu - bé Nguyễn Thị Thuỳ Dung (huyện Nam Sách, Hải Dương). Sự kiện này đã mở ra rất nhiều cơ hội, vận hội mới cho đất nước ta. Với các nhà toán học, 90 triệu đơn giản chỉ là một con số, nhưng với những người làm công tác dân số, con số đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Theo kết quả Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 1989, dân số nước ta là 64,4 triệu người. Khi đó, các nhà khoa học đã dự báo vào năm 2010 dân số Việt Nam sẽ đạt 105 triệu người. Dựa vào dự báo đó, nước ta lẽ ra đạt 90 triệu người vào năm 2002. Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực trong công tác DS-KHHGĐ, tính đến ngày 1/11/2013, quy mô dân số nước ta mới đạt 90 triệu người, chậm hơn so dự báo 11 năm.

Những dự báo trước đó hoàn toàn có cơ sở khi chúng ta có một so sánh đáng chú ý là: Năm 1989, dân số Philippines ít hơn nước ta 6 triệu người, nhưng đến nay, dân số Philippines nhiều hơn nước ta 15 triệu người. Nếu như Việt Nam không nỗ lực làm công tác DS-KHHGĐ như thời gian vừa qua thì dân số nước ta hiện nay sẽ là 110,8 triệu người. Như vậy, trong vòng hơn 20 năm qua, nước ta đã tránh sinh được 20,8 triệu trường hợp. Đây là một thắng lợi hết sức to lớn của chương trình DS-KHHGĐ, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”. Điều đó mang đến rất nhiều cơ hội cho Việt Nam nhưng cũng có không ít những thách thức, khó khăn. Ông có thể nói rõ hơn về vấn đề này?

Từ năm 2007, Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”. Đây là cơ hội có một không hai trong lịch sử phát triển nhân khẩu học của bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

Với hơn 62 triệu người trong độ tuổi lao động (chiếm 69% tổng dân số), Việt Nam đang có một nguồn nhân lực khổng lồ đáp ứng nhu cầu cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cho sự chấn hưng và phát triển của dân tộc.

Chúng ta đang có rất nhiều cơ hội lớn để liên kết quốc gia, khu vực trong chuỗi giá trị toàn cầu. Với 90 triệu người, dân số nước ta đứng thứ 14 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á. Điều đó cho thấy, Việt Nam là một thị trường rất lớn, rất tiềm năng với 90 triệu người tiêu dùng, đủ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài đến với Việt Nam. Như vậy, nền kinh tế của chúng ta sẽ ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới và ngày càng khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta cũng còn rất nhiều những khó khăn, thách thức. Lực lượng lao động của Việt Nam đông nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng quản lý còn hạn chế.

Tình trạng thiếu việc làm có xu hướng tăng lên, đặc biệt ở nhóm lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ lao động nông nghiệp của nước ta còn cao trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do mức độ chuyển đổi mục đích sử dụng và đô thị hoá. Lao động di cư thanh niên tăng nhanh, trong khi các chính sách lao động, việc làm và các dịch vụ xã hội liên quan còn nhiều bất cập. Các dòng di cư cũng tạo nên những biến động về lực lượng lao động và áp lực việc làm ở cả nơi đi, nơi đến như thiếu hụt lực lượng lao động chính tại nơi đi, gia tăng các áp lực về việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tại nơi đến…

Như vậy, hiện nay, Việt Nam mới chỉ có “vàng” về số lượng, “vàng” về cơ cấu tuổi và muốn có được “vàng thật”, chúng ta cần phải nâng cao chất lượng của “vàng”.

Vậy giải pháp nào để khắc phục vấn đề này, thưa ông?

Như trên đã phân tích, vấn đề hiện nay là làm thế nào để có thể tân dụng cơ hội lớn lao và hiếm hoi này vào phát triển kinh tế đất nước.

Có thể nêu một số giải pháp như: Tăng cơ hội việc làm, hướng đến những việc làm tạo giá trị gia tăng cao, tăng năng suất lao động; đa dạng hoá ngành nghề, đặc biệt tại khu vực nông thôn, các ngành có sử dụng nhiều lao động; thực hiện chính sách xuất khẩu lao động để đảm bảo tạo việc làm và tăng thu nhập, từng bước nâng cao chất lượng lực lượng lao động xuất khẩu; mở rộng, nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường lao động.

Tạo điều kiện tiếp cận cơ hội đào tạo nghề cho phụ nữ; đầu tư nguồn lực, nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; triển khai triệt để quan điểm: “GD&ĐT cùng khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu” để từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, một trong ba trụ cột đã được Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra, nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế; Có chính sách đầu tư và tái đầu tư cho phát triển, đặc biệt là cho phát triển con người, trước hết là sự nghiệp giáo dục, y tế, dân số.

Đối với ngành dân số, cần duy trì mức sinh thấp hợp lý nhằm kéo dài thời gian cơ cấu “dân số vàng”, làm chậm lại quá trình “già hoá dân số”; cung cấp đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và có chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ cho phụ nữ, vị thành niên/thanh niên, người di cư…

Những giải pháp tổng thể đa ngành, đa lĩnh vực sẽ giúp cho Việt Nam tận dụng tối đa trí tuệ, sức lao động và tạo ra khối lượng của cải vật chất khổng lồ, làm tăng thu nhập bình quân đầu người, tạo ra giá trị tích luỹ lớn cho tương lai, đảm bảo an sinh xã hội.

Mô hình đưa Trung tâm DS-KHHGĐ về trực thuộc UBND quận, huyện đang nhận được sự ủng hộ của đa số các địa phương, dưới góc độ quản lý Nhà nước, ông có thể cho biết mô hình này có gây xáo trộn về tổ chức, làm tăng biên chế và kinh phí hay không?

Ngày 14/5/2008, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 05/2008/TT-BYT hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ ở địa phương được ban hành (Thông tư số 05), nhiều địa phương gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện nhất là ở tuyến huyện và tuyến xã như: Sự phối, kết hợp khi triển khai thực hiện nhiệm vụ về DS – KHHGĐ; đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa cơ sở vật chất; bổ sung kinh phí để tổ chức triển khai các hoạt động về DS-KHHGĐ…

Trước sự bất cập này, thành phố Hà Nội, tỉnh Gia Lai và Quảng Trị đã thành lập Trung tâm DS-KHHGĐ trực thuộc UBND cấp huyện. Từ lúc chỉ có 3 tỉnh/thành phố đến nay đã có nhiều tỉnh/thành phố chuyển đổi sang mô hình này như: Tỉnh Bình Phước, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Thái Bình, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh… Hiện nay, rất nhiều tỉnh đang trình HĐND tỉnh về mô hình này như: Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên… Có thể nói số tỉnh/thành phố có nhu cầu chuyển đổi sang mô hình này ngày càng tăng lên.

Kết quả các nghiên cứu, khảo sát này cho thấy: Với mô hình Trung tâm DS-KHHGĐ trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ (theo Thông tư số 05) có những bất cập trong việc chỉ đạo, tổ chức phối hợp thực hiện ở địa phương như: Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền đại phương; sự phối hợp hoạt động đối với các ban ngành, đoàn thể trên địa bàn huyện; lồng ghép các hoạt động DS-KHHGĐ trong kết hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện; sự hỗ trợ về kinh phí của UBND huyện cho Trung tâm… Công tác DS-KHHGĐ mang tính xã hội hoá rất cao và cần có sự tham gia tích cực, đồng bộ của tất cả các ngành mới đem lại hiệu quả.

Xin cảm ơn ông!

Bảo Minh (ghi)




Nguyễn Trung Trực - một anh hùng dân tộc đặc biệt


Nguyễn Trung Trực - vị thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX có câu nói bất hủ “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây”, tên tuổi ông là niềm cảm phục và tự hào của người dân Nam bộ. Thế nhưng, không phải người Bình Định nào cũng biết gốc gác của ông là ở Bình Định...

Trong lịch sử chống ngoại xâm vào nửa sau thế kỷ XIX, Nguyễn Trung Trực là một trong những người yêu nước tiêu biểu, và đặc biệt. Ông tham gia chống Pháp từ những năm đầu tiên Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam. Hai chiến công lừng lẫy của ông: đốt cháy tàu L’ Espérance - tàu Hy vọng của Pháp trên vàm sông Nhựt Tảo ngày 10/12/1861 và trận đánh diệt đồn Rạch Giá ngày 16/6/1868.

Chân dung anh hùng Nguyễn Trung Trực.

Với trận Nhựt Tảo ông là người cầm quân đầu tiên ở Việt Nam tiêu diệt “pháo đài nổi” của quân đội Pháp. Trận tập kích đồn Rạch Giá, ông là thủ lĩnh nghĩa quân duy nhất ở đất Nam kỳ đánh chiếm lại được đồn trung tâm tỉnh lỵ sau tháng 8.1867 khi thực dân Pháp thôn tính 3 tỉnh miền tây Nam kỳ.

Nguyễn Trung Trực hy sinh để lại tấm gương anh hùng bất khuất và một câu nói bất hủ “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây”. Hiện nay, lăng mộ ông ở Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Lễ tưởng niệm ông vào các ngày 27, 28, 29 tháng 8 âm lịch hàng năm.

Sau trận Nhựt Tảo, anh em dòng họ nguyễn Trung Trực đổi tên, đổi họ, di tản lẩn trốn khắp nơi, phần đông về rừng rậm Cà Mau ẩn náu.

Gần 100 năm thực dân Pháp đô hộ, việc nghiên cứu về anh hùng Nguyễn Trung Trực gần như bị quên lãng. Đến năm 1968, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông, trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử xuất bản ở Hà nội có đăng một số bài nghiên cứu về Nguyễn Trung Trực. Ở miền Nam, trên “Tập san Sử Địa” xuất bản năm 1968 có dành một chuyên đề để bàn về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực. Mãi đến năm 1987-1988, Bảo tàng Kiên Giang phối hợp với Viện Sử học mới truy tìm được dòng họ Nguyễn Trung Trực hiện sống ở hai nơi: Long An và Cà Mau, cả 2 tông chi này còn gia phả.

Theo gia phả của hậu duệ Nguyễn Trung Trực, 2 tông chi Bình Nhựt (Long An) và Tân Thuận (Cà Mau) thì ông nội của nguyễn Trung Trực là Nguyễn Văn Đạo vốn là ngư dân xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (ngày nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát).

Cuối thế kỷ XVIII, ông cùng người em trai là Nguyễn Văn Chong vào lập nghiệp tại hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, thôn Bình Nhựt, tổng Bình Chánh, huyện Thuận An, trấn Phiên An. Do xuất thân nghề làm biển nên vào đây gia đình ông cũng làm nghề chài lưới và hình thành “xóm Nghề”.

Có lẽ không có vua chúa, quan chức, hay lãnh tụ nào có công với đất nước sau khi chết được xây dựng nhiều đền thờ như Nguyễn Trung Trực, hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có đền thờ Nguyễn Trung Trực như: Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu… trong tổng số gần 20 đền thờ Nguyễn Trung Trực ở đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Kiên Giang có 9 đền thờ. Ngoài đền thờ chính còn có rất nhiều đền thờ ghép, thờ chung trong đình làng, đền, chùa. Một số nhà treo ảnh thờ riêng như thờ cửu huyền thất tổ của họ ở các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp…

Vừa qua, ông Nguyễn Hạnh - Phó Tổng biên tập tạp chí Xưa và Nay về làm việc với UBND tỉnh Bình Định, UBND huyện Phù Cát, UBND xã Cát Hải và một số ban ngành liên quan về ý tưởng xây dựng đền thờ Nguyễn Trung Trực tại quê hương ông: thôn Vĩnh Hội bằng nguồn vốn do Tạp chí Xưa và Nay vận động. Đây là một cơ hội tốt để tỉnh nhà có thêm một di tích lịch sử bằng nguồn vốn xã hội hóa và công trình di tích sẽ là niềm vinh dự, tự hào của Bình Định -quê hương anh hùng chống Pháp Nguyễn Trung Trực.

(Nguồn Báo Bình Định Online)



22-07-2014

Nhật vạch trần kế hoãn binh của Trung Quốc khi rút giàn khoan

Ông Abe liên tục chỉ trích hành vi của Trung Quốc trên biển Đông.

Vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan phi pháp trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế Việt Nam ở biển Đông được báo Nhật theo dõi sát sao. Khi Trung Quốc di chuyển giàn khoan, dư luận Nhật cũng quan tâm đặc biệt. Tờ Yomiuri Shimbun vừa có bài phân tích quanh việc Trung Quốc di chuyển giàn khoan. Một Thế Giới xin trích đăng lại bài viết này.

Khi đối mặt với sự chỉ trích gay gắt từ cộng đồng quốc tế, Trung Quốc có lẽ đã không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc từ bỏ nỗ lực "thay đổi hiện trạng bằng vũ lực" bằng cách kết thúc hoạt động của giàn khoan Haiyang Shiyou 981 ở gần quần đảo Hoàng Sa (Việt Nam) tại Biển Đông.

Các hoạt động ban đầu được dự kiến ​​sẽ tiến hành cho đến giữa tháng 8 nhưng đã kết thúc sớm vì Trung Quốc nói "công việc tiến hành thuận lợi". Nhưng chắc chắn Trung Quốc đã cúi đầu trước áp lực quốc tế và giảm bớt các hoạt động (khiêu khích).

Tính toán sai lầm của Trung Quốc

Vào đầu tháng Năm, Trung Quốc đơn phương hạ đặt giàn khoan ở vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền và Việt Nam ngăn chặn hoạt động của Trung Quốc rất mạnh mẽ. Tàu của Trung Quốc đâm vào tàu Việt Nam liên tục, đánh chìm một thuyền cá Việt Nam khiến căng thẳng leo thang đến mức độ nguy hiểm.

Việt Nam đã kêu gọi quốc tế lên án hành động không tôn trọng luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Có lẽ Trung Quốc không ngờ rằng Việt Nam - vốn ràng buộc nhiều với Trung Quốc về mặt kinh tế - lại phản ứng mãnh liệt như vậy.

Một tính toán sai lầm lớn nữa của Trung Quốc là họ không ngờ Nhật Bản, Mỹ và các thành viên của ASEAN nhanh chóng tăng cường hợp tác với Việt Nam, phản đối Trung Quốc. Thủ tướng Shinzo Abe chỉ trích Trung Quốc đe dọa hòa bình tại các hội nghị quốc tế bằng cách liên tục nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng quy định của luật pháp quốc tế cũng như đòi Trung Quốc làm sáng tỏ các yêu sách lãnh thổ vốn không dựa theo luật pháp quốc tế. Tuyên bố của Thủ tướng Abe đã được cộng đồng quốc tế tán thành ủng hộ.

Với chính sách tập trung vào châu Á, Mỹ đã nói rõ họ sẵn sàng tham gia tích cực trong vấn đề Biển Đông. Vào thời điểm khi Bắc Kinh đang cố gắng để loại trừ Mỹ ra khỏi châu Á, hành động của Mỹ cho thấy họ sẵn sàng thách thức các toan tính của Trung Quốc

Tại cuộc hội đàm của các Ngoại trưởng hồi tháng 5, các thành viên ASEAN vốn có quan điểm trái ngược nhau trong vấn đề Trung Quốc - đã thống nhất thể hiện "quan ngại nghiêm trọng" về tình hình nguy hiểm ở Biển Đông.

Trung Quốc vẫn còn dã tâm

Một loạt các cuộc họp quốc tế đang chờ đợi Trung Quốc. Diễn đàn khu vực ASEAN, với sự tham gia của Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc, sẽ được tổ chức vào đầu tháng tới, trong khi Trung Quốc sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương tại Bắc Kinh vào tháng 11. Trung Quốc dường như muốn tránh là mục tiêu của các chỉ trích trong các diễn đàn kể trên. Một số nhà quan sát dự đoán rằng nước này sẽ thực hiện tự kiềm chế trong thời gian tới.

Mặc dù vậy, Trung Quốc chắc chắn sẽ không thay đổi chiến lược bành trướng lãnh thổ của mình ở biển Đông và Hoa Đông. Do vậy, Nhật Bản và Mỹ phải cảnh giác trước các toan tính của Trung Quốc.

Nhưng dù sao, những nỗ lực của cộng đồng quốc tế đã mang lại tác dụng tích cực trong khoảng thời gian này. Với kinh nghiệm vừa trải qua, các quốc gia có liên quan phải cố gắng thuyết phục Trung Quốc tham gia một cách tích cực vào quá trình xây dựng một trật tự mới ở châu Á.

Anh Tú (theo Yomiuri Shimbun)
Một thế giới



Thông tin từ ISSTH

Thông tin tổng hợp

Kho số liệu của ISSTH

Diễn đàn trí thức

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Đào tạo

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn