16-09-2014

LÀM NGHIÊN CỨU SINH LÀ CHẶNG ĐƯỜNG DÀI GIAN KHỔ

VŨ ĐỨC HƯƠNG

Tháng 9 này vừa tròn 30 năm tôi bảo vệ thành công luận án và được nhận học vị Phó tiến sĩ Sinh học. Mỗi lần nhớ lại 5 năm (1979-1984) là nghiên cứu sinh khoá I của Khoa Sinh học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lòng tôi thêm phấn chấn, tự hào nhưng ngẫm thấy là một chặng đường dài gian khổ.

Thật vậy! Thời kỳ tôi là nghiên cứu sinh là thời kỳ đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn tưởng như không thể vượt qua nổi. Cả nước đang đạt đỉnh điểm của chế độ quan liêu bao cấp, vừa thoát khỏi hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ xâm lược lâu dài, gian khổ chưa được bao lâu lại phải gánh chịu hai cuộc chiến tranh ở phía Tây Nam và phía Bắc, thêm nữa còn bị cấm vận mọi bề. Nhiều cán bộ công nhân viên do đồng lương ít ỏi, đồng tiền mất giá mà ngoài giờ làm việc ở cơ quan đã phải lao vào kiếm tiền thêm như nuôi lợn, cuộn thuốc lá, ra vỉa hè sửa xe và lốp v.v…Nhiều học sinh đến trường còn phải ăn đói, mặc rách, thiếu sách vở, bút mực. Bệnh tật, nhất là sốt rét, sốt xuất huyết hoành hành ở nhiều nơi từ thành thị tới nông thôn. Tôi còn nhớ một câu lan truyền, đủ nói lên khó khăn của nghiên cứu sinh thời ấy: “Tiến sĩ không biết phở là gì”.

Nói đi, phải nói lại! Tôi cũng như tất cả các nghiên cứu sinh trong nước phải ghi nhận công ơn của Đảng và Nhà nước. Dù đang gặp muôn vàn khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn quyết tâm trao cho một số trường đại học và viện nghiên cứu mới là đào tạo sau đại học, nhằm tăng cường đội ngũ trí thức của nước nhà, đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nhờ chủ trương sáng suốt này mới có lớp nghiên cứu sinh khoá I và các khoá tiếp theo, tôi và nhiều người khác được tuyển chọn vào học. Đồng thời, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh Nhà nước có chế độ ưu đãi, các nghiên cứu sinh được giữ nguyên lương và được hưởng các chế độ (độc hại, lưu trú, đi lại v.v…) như khi đang công tác.

Đối với nhiều cơ sở đào tạo, trong đó có trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã đưa ra chủ trương đúng đắn giúp nghiên cứu sinh dễ dàng hoàn thành luận án và luận án có ý nghĩa thực tiễn hơn. Đó là việc liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và cơ quan cử người đi học, cùng cử cán bộ tham gia nhóm hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án và cho phép nghiên cứu sinh được sử dụng số liệu của các đề tài mà nghiên cứu sinh chủ trì hay tham gia nghiên cứu để viết luận án. Lúc luận án của tôi được bảo vệ thành công cũng là lúc các đề tài nghiên cứu do tôi chủ trì hay tham gia nghiên cứu được nghiệm thu và đưa vào ứng dụng ngay.

Góp phần quan trọng trong sự thành công của tôi phải kể đến công lao của các thầy trong nhóm hướng dẫn luận án cùng các thầy tham gia giảng dạy các môn cơ sở. Hầu hết các thầy đã là các nhà khoa học nổi tiếng, chẳng những toàn tâm toàn ý truyền thụ kiến thức mà còn là những tấm gương cho học trò về tác phong trong giảng dạy và tinh thần đam mê trong nghiênc ứu khoa học. Đáng nhớ nhất là quan hệ thầy trò rất mực thước, không hề bị chi phối bởi đồng tiền. Tôi chưa bao giờ phải sử dụng đến “phong bì” ngay cả các ngày lễ Tết, ngày Hiến chương các nhà giáo. Đối với các thầy trong nhóm hướng dẫn luận án và tham gia giảng dạy là vậy. Đối với các thầy trong Hội đồng chấm luận án cũng thế. Các thầy đọc luận án rất cẩn thận, góp ý kiến rất chân thành và cũng rất vui vẻ nhận thù lao theo đúng quy định của Nhà nước. Tôi còn nhớ mãi lời thầy hướng dẫn chính bảo tôi: “Hôm bảo vệ luận án, anh phải coi đây là buổi sinh hoạt khoa học, không phải là việc làng mà phải lo mổ gà mổ lợn”.

Sau khi nhận học vị Phó tiến sĩ sinh học, tôi đã hết mình, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học và đã thu được một số kết quả tốt, rõ ràng nhất là đã công bố một giống muỗi mới cho khoa học; Các đề tài nghiên cứu có chất lượng và được ứng dụng vào thực tế; hai lần được Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cấp bằng khen “Lao động sáng tạo”. Học tập các thầy, tôi cũng tận tâm giúp đỡ sinh viên, nghiên cứu sinh khi họ tìm đến, chưa bao giờ nhận “phong bì” của sinh viên và nghiên cứu sinh mà tôi tham gia hướng dẫn hay chấm luận án.

Tôi viết điều lắng đọng trong lòng trên đây nhằm một lần nữa tri ân Đảng, Nhà nước, cơ sở đào tạo và cơ quan cử đi học và tỏ lòng nhớ ơn các thầy hướng dẫn luận án cùng các thầy tham gia giảng dạy cho tôi. Tất cả đã giúp tôi trở thành một nhà khoa học chân chính. Đồng thời, tôi mong mỏi giới trí thức nước nhà, nhất là những ai đang tham gia công tác giảng dạy, dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn giữ lấy phẩm giá cao quý của mình.

GS - TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài: Sự dịch chuyển dòng vốn sang lĩnh vực công nghệ cao rất đáng để suy nghĩ


Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước khi đổi mới nền kinh tế nước nhà. Có không ít thành tựu đạt được, bài học kinh nghiệm "xương máu" cũng như những thay đổi thích nghi với tình hình mới là việc làm cần thiết trong bối cảnh chúng ta đang tổng kết thành tựu của 30 năm đổi mới.

Về vấn đề này, BáoHànộimới đã có cuộc trao đổi với GS - TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Điều hành chính sách chưa linh hoạt

- Thưa Giáo sư (GS), sau gần ba thập kỷ nước ta mở cửa thu hút FDI, với tư cách là một trong những người đầu tiên tham gia soạn thảo, trực tiếp chỉ đạo thực hiện các chủ trương của Nhà nước về đầu tư nước ngoài - ĐTNN (tính từ khi Luật ĐTNN có hiệu lực từ năm 1987), theo ông, chúng ta đã thu được những kết quả quan trọng gì?

GS-TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
GS-TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

- Thực chất chúng ta bắt đầu đẩy mạnh thu hút vốn FDI từ năm 1991 vì giai đoạn 1988-1990 là quãng thời gian "khởi động" nên quá trình hút vốn FDI thực chất chỉ là 24 năm và chúng ta cũng đạt những kết quả khả quan.

Theo Bộ KH&ĐT, tính đến ngày 20-7-2014, tổng vốn đăng ký các dự án FDI còn hiệu lực trên cả nước là 242 tỷ USD. Tính bình quân số vốn đăng ký mỗi năm là 10 tỷ USD, tương đương các nước trong khu vực. Vốn thực hiện trên thực tế quãng thời gian này là 120 tỷ USD/năm (5 tỷ USD/năm), trong đó giai đoạn 1991-2000 chỉ đạt khoảng 2,5 tỷ USD/năm và thời gian gần đây đã lên tới 8-10 tỷ USD/năm, dự báo có thể đạt 12 tỷ USD vào năm nay. Điều đáng quan tâm là dòng vốn ấy chiếm tới 25% tổng vốn đầu tư xã hội và nếu không có nguồn này thì cũng sẽ khó có 75% tổng vốn đầu tư xã hội trong nước chi cho phát triển bởi sẽ không kích hoạt được đầu tư tư nhân và thu ngân sách nhà nước để tham gia đầu tư công. Dòng vốn FDI cũng giúp hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn mới, gồm: Lọc hóa dầu, ô tô, xe máy, điện tử, hóa chất... Sản xuất của khối FDI đã chiếm tới 45% tổng sản phẩm xã hội, 60% kim ngạch xuất khẩu với chất lượng tốt hơn các khu vực kinh tế khác, góp phần đáng kể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu và bắt đầu xuất siêu. Xét trên bình diện địa phương thì các tỉnh, thành phố có vốn FDI lớn như Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh… đã thay đổi rất nhanh cơ cấu kinh tế trên địa bàn, nâng cao đời sống dân sinh.

- Nhìn lại chặng đường thu hút FDI hơn hai thập kỷ qua, GS có cho rằng đôi khi vì sự chậm trễ trong các quyết sách, đặc biệt là thủ tục hành chính (TTHC) mà chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội thu hút các dòng vốn lớn?

- Khuyết điểm lớn nhất là giữ quá lâu chính sách thu hút FDI. Thời kỳ đầu còn khó khăn, chúng ta thu hút vào bất kỳ ngành nghề gì, kể cả những dự án có vốn 100.000USD. Cách đây khoảng 10 năm, rõ ràng chúng ta có tiềm lực khá hơn nhưng chậm thay đổi vì mới chú trọng vào số lượng chứ chưa phải chất lượng các dự án FDI. Ngoài ra, chúng ta làm rất nhiều về môi trường nhưng các chỉ số sau đánh giá rất không tốt.

Hai hạn chế trên đây theo tôi không phải là do thể chế kinh tế thị trường mà là cách tiếp cận của nền hành chính không theo kịp xu hướng phát triển. Chúng ta cứ hô hào chung chung là cắt giảm 30% TTHC nhưng cắt thủ tục này thì người ta sẵn sàng "đẻ" thêm các thủ tục tương tự. Mới đây, Thủ tướng đã phải đưa ra mệnh lệnh cắt giảm thời gian nộp thuế, làm thủ tục hải quan xuống ngang bằng các nước ASEAN vào năm 2015 là rất cần thiết.

- Góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển đất nước, nhưng các doanh nghiệp (DN) FDI cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, trong số đó điều gì theo GS là đáng ngại nhất?

- Tôi đã phát biểu rất nhiều trên các diễn đàn rằng, toàn bộ các hạn chế nói cho cùng là con người. Trong đó, tôi thấy nổi lên ba vấn đề quan trọng cần phải làm rõ, làm quyết liệt. Trước hết là các "tư lệnh ngành" không chọn được một êkíp làm việc tin cậy, có tư duy hành động phù hợp với xu thế hiện đại thì vô phương. Bạn có thể thấy nhiều vị bộ trưởng trước đây bị "chê" nhưng nay hiệu quả công việc đã minh chứng ngược lại. Tiếp đến, các vị Chủ tịch UBND cấp tỉnh mà quan liêu, không có tầm nhìn chiến lược thì cũng khó thay đổi. Cuối cùng, đội ngũ công chức nhà nước, thủ trưởng các cơ quan đừng vô cảm với người dân, DN. Nếu ai không làm được việc thì cần phải kỷ luật và công bố công khai.

Xem lại khâu phân cấp phê duyệt dự án FDI

- Tại nhiều cuộc họp, GS cho rằng, việc phân cấp thẩm định và cấp giấy phép các dự án FDI đã hạn chế. Cụ thể điều đó là gì?

- Vừa rồi nhiều địa phương rất dễ dãi trong việc lựa chọn dự án, nhà đầu tư nào vào cũng tiếp đãi trọng thị nhưng không tính đến các khả năng có thể hấp thụ từ cả hai phía (địa phương, nhà đầu tư) và cuối cùng có dự án 4-5 tỷ USD chỉ mấy tháng sau phê duyệt đã bị rút giấy phép, ảnh hưởng lớn đến uy tín của môi trường đầu tư của Việt Nam với thế giới. Cho nên, quyền lựa chọn dự án là điều không bao giờ chúng ta được bỏ qua. Chúng ta tôn trọng nhà đầu tư nhưng không có nghĩa bằng mọi giá, nhất là trong điều kiện hiện nay chúng ta cần chất lượng đầu tư chứ không phải số lượng.

- Vậy theo GS, hướng giải quyết vấn đề phân cấp ra sao để việc thu hút FDI hài hòa lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương?

- Vấn đề phân cấp quản lý đối với FDI được đặt ra để xem xét nhưng không dễ thay đổi bởi các lý do. Trước hết, về tâm lý lãnh đạo địa phương muốn mở rộng phân cấp, không muốn "trả lại" Chính phủ quyền hạn và trách nhiệm đã được giao từ năm 2006. Ngoài ra, từ khi được phân cấp mặc dù đã xảy ra nhiều vụ vi phạm của một số địa phương do vượt quá thẩm quyền, nhưng chỉ được "nhắc nhở", chưa có cá nhân nào bị xử lý. Ở chiều ngược lại, lãnh đạo trung ương thường "chiều lòng" các tỉnh, thành phố, nhất là trong dịp đi thăm các địa phương, dễ chấp nhận và quyết định tại chỗ kiến nghị về xin thêm vốn, kinh phí, quyền hạn mà chưa cân nhắc lợi ích toàn cục. Kết quả là "lạm phát" cảng hàng không, cảng biển, trường đại học và cao đẳng, dẫn tới đầu tư dàn trải, kém hiệu quả.

Để bảo đảm lợi ích quốc gia trong thu hút FDI thì cần tiến hành điều tra về chủ trương phân cấp thực hiện từ năm 2006 đến nay để có phương án điều chỉnh hợp lý, nhằm phát huy được tính sáng tạo của địa phương, bảo đảm tính thống nhất luật pháp, nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước. Do đó, tôi đề xuất ba phương án. Trước hết là cần điều chỉnh hợp lý quy định phân cấp cho chính quyền địa phương. Đối với những dự án quan trọng như: Điện năng, giao thông, công nghiệp chế tạo có vốn đầu tư từ 50 triệu USD trở lên thì Bộ KH&ĐT sẽ cấp phép sau khi có ý kiến của các bộ, ngành. UBND tỉnh, thành phố, ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất cấp phép các dự án quy mô vừa dưới 50 triệu USD. Tiếp đến là điều chỉnh một phần quy định phân cấp cho địa phương, có cơ chế đặc thù cho Hà Nội và TP Hồ Chí Minh theo hướng giữ nguyên quy định phân cấp hiện tại. Còn các tỉnh, thành phố thì thực hiện theo phương án đầu tiên. Cuối cùng là giữ nguyên quy định hiện hành với điều kiện quy hoạch ngành, lĩnh vực gắn với quy hoạch vùng và địa phương được công bố công khai.

- Có thực tế là rất ít DN nước ngoài hài lòng với vấn đề xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ ở nước ta. Theo GS, tình trạng này có nguyên nhân từ đâu dù bất cập này đã được nêu ra từ hàng chục năm trước?

- Hiện 85% vốn FDI vào Việt Nam dưới dạng DN 100% vốn nước ngoài. Đây vừa là xu hướng tất yếu, đồng thời cũng là nhược điểm vì sức lan tỏa của khu vực DN này tới xã hội chậm. Ví dụ: Chỉ có 7/93 DN trong nước, chủ yếu là sản xuất bao bì, tham gia vào chuỗi sản xuất của Samsung tại Việt Nam. Con số ít ỏi đó cho thấy chính sách liên kết giữa DN FDI và DN trong nước đang khiếm khuyết và thời gian dài chúng ta nói khuyến khích nhưng vấn đề vẫn không thay đổi. Công nghiệp hỗ trợ kém đồng nghĩa với việc không đạt mục tiêu tiếp cận và làm chủ công nghệ. Vì vậy, theo chủ trương Chính phủ là phải quyết liệt khắc phục nhược điểm này càng sớm càng tốt.

Cải cách để đón "làn sóng" FDI mới

- Vừa rồi GS có nhắc đến vấn đề không nên đánh giá thấp môi trường đầu tư của Việt Nam. Ông có thể phân tích rõ hơn quan điểm này được không?

- Một số người căn cứ vào con số đăng ký qua 7 tháng năm 2014 chỉ đạt 80% so với cùng kỳ năm 2013 để nói vốn FDI đang chững lại và môi trường đầu tư của chúng ta "có vấn đề". Tôi thì không nghĩ vậy vì vốn thực hiện 7 tháng qua tăng 2% so với cùng kỳ, dự báo vốn thực hiện cả năm sẽ khoảng 10-12 tỷ USD, tăng 5-7% so với năm 2013.

Tôi không đồng quan điểm với một số người rằng chúng ta chỉ có lợi thế nhân công dồi dào, giá rẻ, mức chi trả thấp. Tất cả các động thái trong hai năm 2013, 2014 cho chúng ta thấy đánh giá về tiềm năng lao động Việt Nam khác xa so với trước. Gần đây, tôi có làm việc với Samsung, Intel trong các dự án lớn ở Thái Nguyên, Bắc Ninh, TP Hồ Chí Minh thì thấy họ đánh giá khác. Tổng Giám đốc Samsung cho biết, có hơn 40.000 công nhân đang làm việc cho DN này tại Việt Nam nhưng số người bị đuổi việc mấy năm qua chỉ đếm trên đầu ngón tay. Intel cũng vừa chuyển nhà máy ở Costa Rica về Việt Nam, đưa nước ta trở thành công xưởng lớn nhất của hãng này trong thời gian tới. Nói vậy để thấy, các nhà đầu tư đang đánh giá cao trình độ lao động Việt Nam.

- Người ta đã nói đến các "siêu dự án" được cấp phép trong thời gian tới, GS có chia sẻ thêm gì về vấn đề này?

- Đúng là chúng ta cần nhìn nhận có một số sự dịch chuyển nhất định. Cụ thể: Năm 2006, Intel - nhà đầu tư công nghệ cao hàng đầu tại Mỹ - rót vốn vào dự án 1 tỷ USD tại TP Hồ Chí Minh. Lúc đầu rất băn khoăn về khả năng người Việt có thể tiếp cận với công nghệ cao, nhưng đến nay họ đã có cái nhìn khác và việc chuyển nhà máy từ Costa Rica về Việt Nam là minh chứng rõ nhất. Tiếp đến, Samsung vào Việt Nam từ năm 2007 với số vốn 650 triệu USD, hiện là 4,5 tỷ USD, gần đây họ mới thêm dự án 1 tỷ USD tại Bắc Ninh và sắp tới 1 tỷ USD nữa cũng sẽ được rót vào TP Hồ Chí Minh. Samsung có trao đổi với tôi về khả năng đầu tư vào Nha Trang (Khánh Hòa) dự án đóng tàu, vào Đồng Nai dự án sân bay và bệnh viện, nâng vốn đầu tư của Samsung tại Việt Nam lên 13 tỷ USD trong giai đoạn 2016-2017, tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 130.000 lao động. Với nền chính trị ổn định, thời gian cấp phép, triển khai dự án rất nhanh rõ ràng chúng ta đang được đối tác đánh giá cao.

Tiếp đến, tiềm năng của lao động Việt Nam cũng đang được tin cậy và Samsung sẽ đầu tư một trung tâm nghiên cứu lớn nhất của họ tại nước ngoài (hiện nay nằm tại Ấn Độ) vào Hà Nội với quy mô lao động khoảng 2.000 người. Sự dịch chuyển dòng vốn từ thương mại truyền thống sang lĩnh vực công nghệ cao rất đáng để suy nghĩ.

- Việt Nam sẽ phải làm gì để đón "làn sóng" này?

- Chúng ta phải thừa nhận thực tế là thế giới đang thay đổi rất nhanh và Việt Nam ngày càng hội nhập sâu với kinh tế khu vực cũng như toàn cầu. Do đó, những công việc phải đề cập đến trước tiên là có những điều chỉnh chính sách phù hợp, trong đó có vấn đề thu hút FDI, trước ngưỡng cửa một cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành vào năm 2015, khả năng đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và một số đối tác lớn khác kết thúc. Chúng ta phải tiếp cận tư duy phát triển mới, tức là phải biết lựa chọn dự án FDI nào cần cho đất nước, cho địa phương. Đã qua lâu rồi thời kỳ dự án nào cũng duyệt mà phải biết lựa chọn phần việc nào DN trong nước làm được thì phải để họ làm. Thứ hai: Bộ máy công quyền từ trung ương tới địa phương và mỗi người trong hệ thống đó cũng phải nhìn nhận việc thay đổi là phải hằng ngày, thường xuyên chứ không phải là "trên ép, dưới thay đổi" để chuyển sang nền hành chính phục vụ thì mới có thể thích hợp với xu hướng của một xã hội phát triển. Một điểm quan trọng khác là làm thế nào để người dân được thụ hưởng những thành quả của hội nhập quốc tế, trong đó có thu hút FDI.

- Xin trân trọng cảm ơn giáo sư! 

Thế Dũng thực hiện

(Nguồn: Báo Hà Nội mới, 2014)



Cái ốc vít, đôi đũa tre... không phải chuyện nhỏ


Việt Nam đã trở thành một "cứ điểm" sản xuất sản phẩm công nghệ cao trên bản đồ thế giới. Trong 400 triệu chiếc điện thoại di động của Samsung được bán ra trên thị trường thì có tới 120 triệu chiếc được sản xuất tại Bắc Ninh...

 

Thế nhưng, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chỉ cung ứng được các sản phẩm bao bì, còn cái ốc hay con vít vẫn chưa làm được. Những thông tin như vậy đã hâm nóng câu chuyện đau lòng về trình độ công nghệ và vị trí của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam và làm nhiều doanh nghiệp "nóng mặt". Nhưng thực tế vẫn là thực tế. Giới doanh nghiệp Việt cần nhận diện sự việc một cách tỉnh táo để có bước chuyển phù hợp. Thêm nữa đây cũng chỉ là một trong nhiều câu chuyện về doanh nghiệp Việt Nam trên đường ra "biển lớn".

Chuyện thứ nhất: Thông tin từ hội thảo "Chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ cho Việt Nam" cho biết, trong năm 2013, Samsung Việt Nam đã chi ra 19,8 tỷ USD mua các thiết bị linh kiện, nếu doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được khoảng 10% số đó sẽ thu về một khoản lợi nhuận không nhỏ. Chưa kể, theo Samsung Việt Nam, chỉ riêng dây sạc pin cho điện thoại di động mỗi năm doanh nghiệp này cần 400 triệu sản phẩm, mỗi sản phẩm trị giá 0,5 USD nhưng doanh nghiệp Việt Nam không đáp ứng được nên họ vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài... Đây chính là một phần căn nguyên dẫn tới nhận định làm "nóng mặt" nhiều doanh nghiệp cũng như nhà quản lý: Doanh nghiệp Việt Nam không thể cung cấp được cái sạc pin, ốc vít cho các doanh nghiệp FDI...

Nhận định trên gây nhiều phản ứng trái chiều. Có người cho rằng: Samsung là một thương hiệu toàn cầu, tiêu chuẩn Samsung là tiêu chuẩn thế giới. Trong lĩnh vực thiết bị di động, các hãng phải cạnh tranh nhau từng micromet trên mỗi sản phẩm, một con ốc sẽ phải đạt rất nhiều tiêu chuẩn khắt khe. Vì vậy phụ kiện rất nhỏ, nhưng câu chuyện làm ra nó hoàn toàn không nhỏ. Cũng có ý kiến khác: Trong chuỗi sản xuất, Samsung đã dành những phần béo bở nhất cho lao động Hàn Quốc, những phần phụ, tỷ suất lợi nhuận thấp thì đặt hàng các nước khác. Do vậy, dù doanh nghiệp có khả năng công nghệ, cũng phải cân nhắc hiệu quả của việc đầu tư nhân lực và thiết bị để nhận đơn đặt hàng, chứ không thể "làm cho thế giới biết mặt" để rồi chịu lỗ... Nhiều doanh nghiệp có chung nhận định: Để công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam phát triển thì phải có thị trường lớn và điều cốt yếu là Chính phủ phải có chính sách ưu đãi cho những doanh nghiệp này.

Chuyện thứ hai: Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2013 Việt Nam phải chi tới 500 triệu USD để nhập khẩu các loại hạt giống rau. Đáng nói là trong đó rất nhiều loại hạt giống như củ cải, cà chua, dưa chuột, cải bắp, su hào, rau mầm..., chúng ta hoàn toàn có thể tự sản xuất. Giáo sư - Viện sĩ Trần Đình Long - Chủ tịch Hiệp hội Thương mại giống cây trồng Việt Nam nói: Doanh nghiệp trong nước chưa sở hữu được những tổ hợp lai có thể đáp ứng yêu cầu sản xuất hạt giống chất lượng cao. Ở khía cạnh khác, có ý kiến cho rằng: Việc mỗi năm phải chi hàng trăm triệu USD để nhập khẩu hạt giống rau là do cơ chế, chính sách của Nhà nước không tạo ra được một hành lang thông thoáng và hấp dẫn để các nhà đầu tư tư nhân vào cuộc. Trong khi đó, ngành sản xuất hạt giống đòi hỏi công nghệ cao và chi phí ban đầu rất lớn...

Thực tế, đại bộ phận doanh nghiệp giống cây trồng của nước ta có quy mô nhỏ, thậm chí rất nhỏ. Không có khả năng tài chính nên các doanh nghiệp chỉ tập trung nghiên cứu được một vài loại sản phẩm riêng lẻ theo kiểu "mèo nhỏ bắt chuột con". Tuy nhiên, sự manh mún của các doanh nghiệp giống cây trồng chính là lối tư duy "hàng xén", doanh nghiệp chỉ chăm chăm vào chuyện "đánh quả" nhập khẩu hàng về bán lẻ, kiếm chút chênh lệch giá chứ không tính chuyện đầu tư lâu dài. Và một khi các doanh nghiệp chưa thay đổi được tư duy kinh doanh đậm chất tiểu nông như vậy thì Việt Nam vẫn phải lệ thuộc vào việc nhập khẩu giống cây trồng. Và điều này vô cùng nguy hiểm với một quốc gia nông nghiệp.

Chuyện thứ ba: Mỗi năm, Việt Nam phải nhập khẩu cả chục nghìn tấn đũa tre, tăm tre từ Trung Quốc. Với một đất nước "đâu đâu ta cũng có nứa tre làm bạn", liệu đây có phải là câu chuyện bình thường? Phải chăng chiếc tăm, đôi đũa của nước ngoài được chế tạo bằng một loại "công nghệ" đặc biệt và có những "công năng" sử dụng vượt trội so với chiếc tăm, đôi đũa của ông bà ta để lại từ xa xưa? Vì chính sách thuế chưa thực sự khuyến khích việc đầu tư sản xuất nên giá thành một gói tăm, đôi đũa của Việt Nam cao hơn của Trung Quốc? Vì các doanh nhân Việt Nam quen thói "làm ngay, ăn ngay"? Hay là vì rừng tre Việt Nam đã cạn kiệt đến mức không còn đủ nguyên liệu cho sản xuất? Rất nhiều câu hỏi được đặt ra, vậy đằng sau câu chuyện bất bình thường ấy là gì?

Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chính sách ưu tiên phát triển các mặt hàng thủ công truyền thống, nhưng vì sao người nông dân vẫn không thể sống bằng nghề cha ông, không thể xuất khẩu được sản phẩm của mình? Không tiêu thụ được sản phẩm, không cạnh tranh được trên "sân nhà", nhiều làng nghề chuyên làm tăm tre đã phải chấp nhận bỏ nghề truyền thống. Thực tế đáng buồn đó đã đem lại kết cục là một đất nước bạt ngàn tre nứa đã phải nhập khẩu từng chiếc tăm, đôi đũa. Các nhà hoạch định chính sách nghĩ gì khi hàng Việt bị doanh nghiệp nước ngoài chèn ép đến "phơi bụng" trên "sân nhà"? Cái nhỏ còn không làm được liệu có tính được chuyện lớn hay không?

Từ ba câu chuyện nêu trên có thể đặt câu hỏi: Sản xuất một con ốc phải bảo đảm tiêu chuẩn khắt khe của một thương hiệu toàn cầu không đơn giản, nhưng tại sao có những mặt hàng đơn giản, lại là thế mạnh của Việt Nam như chiếc tăm, đôi đũa vẫn phải nhập từ nước ngoài? Tại sao chúng ta lại phải bỏ tới hàng trăm triệu USD mỗi năm để nhập về những thứ hoàn toàn có thể sản xuất trong nước như hạt giống cà chua, dưa chuột...? Không phủ nhận cơ chế, chính sách hiện nay còn nhiều bất cập, nhưng cơ quan quản lý và doanh nghiệp không thể biện minh cho sự yếu kém bằng cách đổ lỗi cho cơ chế. Rõ ràng, chúng ta không thể bước đến "sân chơi" tương lai trên cây cầu cũ với lối tư duy manh mún, lối làm ăn "đánh quả", "chộp giật" và kiểu quản lý quan liêu.

Nếu không sản xuất được những cái ốc vít, cái sạc pin điện thoại di động, doanh nghiệp Việt Nam không có chỗ đứng trong một chuỗi giá trị toàn cầu. Điều đó đồng nghĩa với việc người Việt Nam sẽ phải chấp nhận thân phận làm thuê trên chính đất nước mình. Nếu tiếp tục nhập khẩu những chiếc tăm, đôi đũa, chúng ta không chỉ tự đánh mất thế mạnh đối với một mặt hàng truyền thống mà nguy hiểm hơn để doanh nghiệp nước ngoài lũng đoạn ngay trên "sân nhà" với những sản phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. Nếu không sản xuất được những hạt giống cây trồng, Việt Nam tiếp tục đánh mất quyền tự chủ đối với một mặt hàng vô cùng quan trọng, có tác động rất lớn đến những người dân "một nắng hai sương", sống dựa vào đồng ruộng. Những vấn đề nêu trên đều không phải là chuyện nhỏ.

Tại sao doanh nghiệp Việt Nam không đầu tư cho công nghệ nguồn, công nghệ chế tạo, công nghệ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao mà cứ lao vào công nghiệp chế biến, lắp ráp, gia công? Vì tiềm lực, vì tư duy... hay vì "bóc ngắn cắn dài"? Muốn vươn ra biển lớn phải có tư duy táo bạo, thay vì "ngửa cổ" trông chờ cơ chế, hoặc "chạy" cơ chế. Vì vậy, các doanh nghiệp cần chủ động nguồn lực để đón nhận những làn sóng mới (lĩnh vực điện tử là một ví dụ). Trong bối cảnh toàn cầu hóa, doanh nghiệp Việt Nam không thể một mình đứng ngoài "sân chơi" của thế giới và đối với một đất nước có tới gần 70% dân số sống ở khu vực nông thôn, phát triển kinh tế nông nghiệp là một tất yếu. Không có lợi nhuận, doanh nghiệp nước ngoài không đến Việt Nam, vấn đề là doanh nghiệp và người dân Việt Nam được gì trong chuỗi lợi nhuận đó. Những "siêu dự án", những cây cầu, con đường hoành tráng cho tương lai là cần thiết nhưng quan trọng không kém là những việc nhỏ nhưng thiết thực để không biến mình thành những kẻ làm thuê ngay trên "sân nhà".

Cù Xuân Trường

(Nguồn: Hà Nội mới, 15/9/2014)



Là tiến sĩ



Là tiến sĩ nghĩa là vui cùng sách vở
Qua bao ngày trăn trở tìm quy luật ngoài đời
Đặng cô động thành đôi lời bất hủ
Thêm cho người bát cơm, giấc ngủ ngon lành

Là tiến sĩ nghĩa là sống đời thanh bạch
Để tâm hồn trong sạch như những dải trăng thanh
Có lúc quên ăn, giấc ngủ chẳng thành
Vẫn mỉm cười cùng bông hoa nở bên anh

Vũ Đức Hương



Nhóm 5 chất độc mạnh nhất trên thế giới



Hiện có nhiều bài viết về danh sách các chất độc nhất được tập hợp, dựa trên độc tính được đo bằng một chỉ số LD50-thước đo liều lượng cần dùng của một chất để giết chết một nửa số cá thể (thường là những con chuột). Nó thường được đo bằng liều lượng cần dùng trên một đơn vị trọng lượng của động vật. Đây là cách để định lượng mức độ chết người của một chất, nhưng độc tính tổng thể còn phức tạp hơn thế.

Các nhà nghiên cứu chất độc cho biết, những hạn chế của LD50 là về kỹ thuật, đạo đức và pháp lý. Do đó cách đo lường chỉ số của chất độc trên động vật ngày càng trở nên ít phổ biến hơn. Dưới đây là danh sách các chất độc hơn cả chỉ số LD50 mà chúng tồn tại quanh chúng ta.

1. Độc tố Botulinum

Một số loại của độc tố Botulinum được sử dụng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, các độc tố thần kinh thuộc họ này bao gồm một số loại chất độc hại nhất đối với con người. Chỉ số LD50 của chất này là vào khoảng 5mg/kg (nano gam/kg). Với liều lượng này khi bị tiêm có thể không gây chết người nhưng sẽ bị tê liệt chân tay.

2. Nọc độc rắn

Cũng giống như độc tố botulinum, hầu hết nọc độc rắn là một hỗn hợp của nhiều protein, thường là độc tố gây hại thần kinh với LD50 dưới 1 mg/kg. Tuy nhiên, một yếu tố quan trọng ở đây lại chính là tốc độ phát tác. Có một số nọc rắn dù ít độc hơn đồng loại, nhưng lại có thể giết người nhanh hơn. Một nọc độc với độc tính cao nhưng phát tác chậm có thể cho ta đủ thời gian để can thiệp, trong khi một chất độc với chỉ số LD50 thấp hơn nhưng phát tác nhanh hơn có thể giết bạn trước khi bạn tìm được sự giúp đỡ.

3. Thạch tín (Asen)

Nguyên tố Asen (thạch tín) có chỉ số LD50 vào khoảng 13 mg/kg được xếp theo thứ tự mức độ cao hơn so với một số chất trong danh sách này. Mặc dù vậy, Cơ quan Kiểm định các Chất độc hại và Dịch bệnh Hoa Kỳ xếp nó ở vị trí hàng đầu trong danh sách các chất độc hại. Khi phải tiếp xúc với chất Asen trong một thời gian dài sẽ là một vấn đề nghiêm trọng, nó là nguyên nhân của các căn bệnh ung thư. Theo các nhà khoa học, đây là loại chất độc giết người âm thầm, vì không thể nhận ra chúng bằng cảm quan bên ngoài.

4. Poloium - 210

Đây là chất phóng xạ vô cùng độc hại, ngay cả với số lượng ít hơn một phần tỷ gram cũng có thể gây chết người. Nó gây tử vong bằng cách phát ra bức xạ phá huỷ các sợi phân tử sinh học nhạy cảm, chẳng hạn như DNA và gây chết tế bào. Chu kỳ bán rã - khoảng thời gian để phân rã một nửa lượng vật chất ban đầu - của polonium là khoảng một tháng, dẫn đến một cái chết chậm do nhiễm độc phóng xạ.

5. Thuỷ ngân

Độc tính của thuỷ ngân thực sự rất phức tạp, phụ thuộc chủ yếu vào loại thuỷ ngân có liên quan. Các hợp ngân thuỷ ngân hữu cưo và vô cơ có tác dụng khác nhau và do đó giá trị LD 50 cũng khác nhau (thường từ 1-100 mg/kg). Thuỷ ngân là nguyên nhân gây ra các tổn thương não và gan khi con người tiếp xúc, hít thở hay ăn phải. Một trong những hợp chất độc nhất của nó là đimêtyl thuỷ ngân, độc đến mức chỉ vài micrôlít rơi vào da có thể gây tử vong.

Nguyễn Tú

(Theo The Conversation)



“Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi”...

1. Trong “Tự bạch” của mình, khi các cô con gái hỏi: “Câu cách ngôn mà cha yêu thích?”, Marx trả lời: “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi”. Đó là lời “tự thú”, cũng là một thông điệp rất đáng suy nghĩ của một vĩ nhân.

Không xa lạ với Marx, những tình cảm cao cả, những ham muốn trần tục và trăm ngàn những tâm trạng “tiêu cực” của con người như cô đơn, sợ hãi, hoang mang, đau khổ, nhớ nhung, tuyệt vọng… Marx vĩ đại, “ông tổ” của những người cộng sản cũng như hết thảy chúng ta, trong cuộc đời mình đã trải qua mọi cung bậc của tình cảm, từ cao thượng nhất đến tận cùng của thấp hèn.

“Không gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi” nhưng điều làm nên sự khác biệt giữa của mỗi người là cách họ chinh phục những tư tưởng, tình cảm tầm thường và dày công nuôi dưỡng những đức tính tốt đẹp như thế nào.

2. Trong một quán sách bên lề đường Nha Trang, tôi tình cờ mua được cuốn sách mỏng viết về Lincoln[1]. Cuốn sách kể lại hành trình của một tổng thống, từ lúc sinh ra trong một căn lều rách của vùng Kentucky khô cằn nhất nước Mỹ đến lúc bước vào Nhà Trắng, điều hành đất nước vượt qua một thời kì đen tối trong lịch sử.

Cuộc đời của Lincoln là một ví dụ kinh điển về việc con người có thể can đảm vượt qua những thất bại. Năm 22 tuổi, thất bại trong kinh doanh. Năm 23 tuổi, thất bại trong việc ứng cử vào cơ quan lập pháp. Tiếp tục thất bại trong kinh doanh năm 24 tuổi. Bị đánh bại trong cuộc chạy đua vào ghế đại biểu cử tri bầu Tổng thống năm 31 tuổi. Ba năm sau thì thất bại khi chạy đua vào Hạ viện…

Chuyện tình cảm của Lincoln cũng trắc trở một cách đáng thương. Mối tình đầu kết thúc nhanh chóng vì cái chết của cô gái. Một năm sau, mối tình thứ hai thất bại thảm hại, cô gái cự tuyệt lời cầu hôn, không phải một mà hai lần. Mối tình thứ ba, tuy đến được với hôn nhân nhưng đầy nước mắt. Lúc họ mới yêu nhau, bên nhà gái bị sốc, Lincoln không bằng cấp, không tiền bạc, địa vị xã hội thấp kém. Có lúc họ nói lời chia tay và vị tổng thống của hơn 20 năm sau đã đau khổ muốn hóa điên. Chàng trai 32 tuổi than vãn với bạn: “Tôi đang là kẻ đau khổ nhất trần gian. Những đau đớn của tim tôi, nếu chia ra cho mọi nhà thì trên trái đất này không còn tìm được gương mặt vui tươi nào nữa”. Cuộc hôn nhân đó tốn không biết bao nhiêu giấy bút của các nhà viết sử vì có quá nhiều bi kịch.

Trong cuộc đời, Lincoln đến trường học chỉ khoảng 12 tháng. Năm 22 tuổi, lần đầu tiên lên thành phố, “anh biết đọc, biết viết, có chút ít kiến thức về số học và đó là tất cả những gì anh có”. Phép màu nào để Lincoln trở thành một luật sư giỏi và 30 năm sau trở thành tổng thống? Có thể coi đây là bí quyết: khi còn là một cậu bé, Lincoln có một thói quen và ông duy trì mãi cho đến lúc trưởng thành. Mỗi khi nghe ai nói một điều gì khó hiểu, suốt cả buổi tối, cậu bé đi đi lại lại, nghiền ngẫm cho kì đến lúc nói ra được bằng lời một cách chính xác và dễ hiểu nhất.

Lincoln có những ứng xử “bốc đồng đến mức dễ thương”. Thời gian chuẩn bị vào Nhà Trắng, ông nhận được bức thư của một cử tri… 7 tuổi. Cô bé góp ý, rằng ngài trông sẽ đẹp hơn nếu để râu. Ít lâu sau, vị tân tổng thống của nước Mỹ xuất hiện trước công chúng với bộ râu quai nón đúng như lời “tư vấn” của cô bé.

Tôi không tin tác giả cuốn sách đọc được “thông điệp” của Marx. Tuy vậy, với hàng trăm những mẫu chuyện nhỏ, hình ảnh của Lincoln sống động, gần gũi và thật cao cả. Cuộc đời của Lincoln an ủi, khích lệ, động viên người đọc bởi “không có gì thuộc về con người mà xa lạ với ông”.

3. Thật thiệt thòi cho nền văn học, sử học và truyền thông nước nhà khi thông điệp của Marx đã không được chúng ta chú ý vận dụng. Kết quả, hầu như các chân dung những nhân vật lịch sử, các hình tượng điển hình được dựng lên một cách khô cứng, xa lạ, ít thuyết phục công chúng.

Tư duy truyền thông thời chiến, phương pháp tuyên truyền kiểu “Lê-nin trong hiệu hớt tóc” tưởng đã đi vào lịch sử, vậy mà không ngờ đến thế kỉ XXI vẫn còn nở rộ.

4. Quay lại với Lincoln, trong lễ tưởng niệm ở Gettysburg, ông đã đọc một diễn văn chưa đến ba phút. Bài diễn văn bất tử đó được khắc vào một bản đồng đặt trong thư viện Oxford với câu kết thúc như sau: “Quốc gia này, dưới sự che chở của Chúa, sẽ có tự do mới; và rằng chính phủ của dân, do dân và vì dân sẽ không bao giờ biến mất khỏi trái đất này”.

Có một phát hiện thú vị [2]. Câu văn kiệt xuất trên được viết ra từ cảm hứng khi Lincoln đọc bài diễn văn của Theodore Parker và đánh dấu: “Dân chủ là cách tự quản tốt nhất, của tất cả nhân dân, vì tất cả nhân dân và cho tất cả nhân dân”. Theodore Parker có thể đã mượn những ngôn từ đó từ Webster người bốn năm trước từng nói rằng “chính phủ của dân, lập ra vì dân và bởi dân”. Wester có thể đã mượn từ ý của tổng thống James Monroe 30 năm trước. Vẫn chưa hết, 500 năm trước khi James Monroe sinh ra, Wyclif đã nói trong tựa đề một bản dịch Kinh Thánh, rằng “cuốn Kinh Thánh này là dành cho chính phủ của dân, do dân và vì dân”. Rất lâu trước Wyclif, 400 năm trước Chúa ra đời, trước thành Athens, Cleon đã nói về người cai trị “của dân, do dân và vì dân”. Có thể Cleon đã thừa hưởng từ một người vô danh nào đó mà cuộc đời và sự nghiệp chìm trong màn sương mù của thời gian và sự quên lãng.

Phát hiện trên càng chứng tỏ khát vọng của loài người về “một chính phủ của dân, do dân và vì dân” đã cháy bỏng từ thời xa xưa, rằng con đường đi đến một xã hội dân chủ gập ghềnh như thế nào. Phát hiện đó không hề làm giảm đi lòng yêu mến của người Mỹ với Lincoln. Trong tất cả các cuộc xếp hạng tổng thống [3], Abraham Lincoln luôn là một trong ba tổng thống vĩ đại nhất kể từ thời lập quốc đến nay.

Nguyễn Hoa Lư

*****
Chú thích:
(1) Stefen Lorant, The life of Abraham Lincoln
(2) Dale Carnegie, Nghệ thuật nói trước công chúng, NXB Văn hóa thông tin, 2005
(3) http://en.wikipedia.org/wiki/Historical_rankings_of_Presidents_of_the_United_States



Điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi



Cách hữu hiệu nhất để người già đối phó với bệnh tăng huyết áp là thay đổi lối sống: giảm ăn muối, kiêng rượu, thuốc lá và chất kích thích, vận động vừa phải... Ngoài ra, bệnh nhân có thể sử dụng một số bài thuốc cổ truyền để hạ áp.

Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính, biểu hiện chính là tăng áp lực động mạch, có thể gây ra biến chứng ở nhiều cơ quan như tim mạch, não, thận và mắt. Có hai loại tăng huyết áp. Loại nguyên phát chiếm khoảng 90%, gặp hầu hết ở lứa tuổi trung niên và tuổi già do những thay đổi cơ chế gây co hoặc giãn mạch. Tăng huyết áp thứ phát thường gặp ở người trẻ và trẻ em do các bệnh ở thận, nội tiết... Ở người cao tuổi, hẹp tắc động mạch thận là nguyên nhân chủ yếu gây tăng huyết áp thứ phát.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh bao gồm:

- Tuổi tác: Ở lứa tuổi 60 trở lên, tỷ lệ tăng huyết áp là 1/3.

- Yếu tố xã hội: Tỷ lệ mắc bệnh ở thành thị cao hơn nông thôn do nhịp sống căng thẳng, khẩn trương.

- Béo phì: Trong lượng cơ thể vượt quá mức cho phép (chỉ số BMI ở nam hơn 25, nữ hơn 30).

- Nghiện rượu và thuốc lá.

- Ăn mặn: Lượng muối quá 5 g/ngày.

- Rối loạn lipid máu và tiểu đường.

Để điều trị, người bệnh cần có chế độ ăn giảm cân nếu thừa cân, ăn ít muối, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu và các chất kích thích; năng vận động thể lực như đi bộ, bơi, tập dưỡng sinh, thái cực quyền... Nên sử dụng nước uống có tác dụng hạ huyết áp, an thần, lợi tiểu như hoa hòe, chè sen vông, chè thanh nhiệt, nước ngô luộc... Chế độ sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi phải hợp lý, đảm bảo giấc ngủ đầy đủ. Hạn chế dùng thuốc ngủ khi không cần thiết.

Ngoài ra, người bị tăng huyết áp cũng có thể điều trị theo một số bài thuốc y học cổ truyền sau:

- Thiên ma, câu đằng, đỗ trọng, tang ký sinh, bạch thược, chi tử, ngưu tất mỗi thứ 12 g, hoàng cầm 8 g, thạch quyết minh, mẫu lệ mỗi thứ 20 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp thể can dương thịnh (đau đầu, chóng mặt, mặt đỏ, bứt rứt, ngủ ít, hay mê, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện táo).

- Thục địa, hạ khô thảo mỗi thứ 16 g; hoài sơn, sơn thù, bạch linh, đan bì, trạch tả, kỷ tử, bạch mao căn, cúc hoa mỗi thứ 12 g, thạch quyết minh 20 g, câu đằng 10 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp thể can thận âm hư (hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau đầu, tức ngực, tay chân tê dại, ngủ kém).

- Bán hạ chế, thiên ma, trần bì, thạch xương bồ mỗi thứ 8 g; bạch linh, bạch truật, câu đằng mỗi thứ 12 g, cam thảo 4 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp kèm béo phì hoặc cholesteron.

ThS Thùy Hương

(Nguồn: Sức Khỏe & Đời Sống, 9/2014)



Thông tin từ ISSTH

Thông tin tổng hợp

Kho số liệu của ISSTH

Diễn đàn trí thức

Nhân tài

Nghiên cứu khoa học

Nguồn nhân lực

Sức khỏe cộng đồng

Đào tạo

Sách hay cần đọc

Giới thiệu thơ

Thư giãn vài phút

Truyện cực ngắn