Thứ Năm, ngày 01 tháng 3 năm 2012

Phát triển kinh tế trí thức ở Việt Nam: Quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng, Những vấn đề lý luận và thực tiễn


                                                                       GS.VS Đặng Hữu*

  
Ảnh sưu tầm trên internet.

I. Kinh tế tri thức và bối cảnh mới

Bắt nguồn từ hai phát minh vĩ đại: thuyết Tương đối và thuyết Lượng tử, khoa học - công nghệ (KHCN) thế kỷ XX phát triển vũ bão, bùng nổ cách mạng tri thức và cách mạng thông tin, hệ thống công nghệ cao ra đời, LLSX phát triển nhảy vọt lên thang bậc mới, xã hội loài người biến đổi sâu sắc về mọi mặt, nền văn minh công nghiệp chuyển sang nền văn minh trí tuệ. Nền kinh tế công nghiệp chuyển sang nền kinh tế dựa vào tri thức (KTTT), xã hội công nghiệp chuyển lên xã hội tri thức, xã hội thông tin. Nền KTTT là nền KTTT toàn cầu hóa là hệ quả tất yếu của 3 quá trình: phát triển kinh tế thị trường, phát triển KHCN và toàn cầu hóa.

- Hệ quả của CNH TBCN: Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, xã hội bất công, bất bình đẳng sâu sắc, đạo đức văn hóa xuống cấp, cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, môi trường sống của loài người bị đe dọa.

- Phải chăng đã đến lúc kết thúc sứ mạng của CNTB? CNTB đã đại điều chỉnh - hậu TBCN, CNTB mới… để thích nghi với quá trình phát triển chuyển từ kinh tế công nghiệp lên hậu công nghiệp và KTTT, nhưng CNTB đang gặp nhiều mâu thuẫn nan giải trước sự phát triển KTTT. Đối với sản phẩm trí tuệ, lao động cần thiết không còn là thước đo giá trị nữa. Thời gian lao động cần thiết giảm đến tối thiểu, thời gian nhàn rỗi tăng tối đa. Đó là điều kiện chín muồi để thay thế CNTB (K.Marx). Cũng theo K.Marx, khi chủ nghĩa mậu dịch tự do trở thành chủ đạo, thị trường toàn thế giới hình thành, thì tất cả những mâu thuẫn vốn có đan xen, xung đột nhau, làm nảy sinh một cuộc đấu tranh được kết thúc bằng sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản. Chủ nghĩa cộng sản không phải là một học thuyết mà là một cuộc vận động.Nó xuất phát không phải từ những nguyên tắc, mà từ những sự thật. Những người cộng sản không lấy thứ triết học này nọ, mà lấy toàn bộ quá trình lịch sử trước đây và đặc biệt là những kết quả thực tế trước mắt tại các nước văn minh làm tiền đề của họ.

- Nền KTTT toàn cầu hóa là sự hội nhập của các nền kinh tế trình độ chênh lệch nhau rất xa, là sự phân chia lại thị trường, phân công lại lao động; là một sân chơi rất không bình đẳng, luật chơi do các nước giàu nhất áp đặt; là một kiểu thức thực dân mới,bóc lột tinh vi, nhưng không một nước nào có thể đứng ngoài được và nước nào cũng có chiến lược phát triển KTTT. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với cả thế giới còn lại trở thành mâu thuẫn nổi bật. Cuộc chiến giữa các nước giàu và các nước nghèo ngày càng gay gắt. Thế giới tiến bộ đấu tranh cho một toàn cầu hóa công bằng, văn minh.Xu thế xã hội chủ nghĩa đang lớn mạnh trong sự phát triển của thế giới đương đại.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay vốn là thuộc tính của CNTB, hậu quả của nó toàn thế giới phải gánh chịu; phong trào đấu tranh đòi cải cách, thay đổi trên phạm vi toàn thế giới, với nhiều xu hướng khác nhau. “Cuộc khủng hoảng ngày nay là vì nhân loại ngày mai”. CNTB buộc phải thay đổi cơ bản, tùy thuộc vào sự nhận thức ra những khuyết tật, sai lầm trong mô hình hiện có. Khủng hoảng, cải cách... là cơ hội mà mỗi nước biết lựa chọn khôn ngoan giải pháp tối ưu trong sự mất cân bằng đó.

Có thể nói thời đại ngày nay là thời đại chuyển tiếp trọng đại nhất trong lịch sử loài người chuyển từ xã hội có áp bức bóc lột, bất công sang một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, con người được hoàn toàn giải phóng. KHCN, KTTT là tác nhân chính thúc đẩy cuộc đấu tranh đó.

II- Lý luận và thực tiễn ở nước ta: Từ công nghiệp hóa là nhiệm vu trung tâm, cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. 

Dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã hình thành quan điểm, chính sách phát triển đất nước dựa vào khoa học, coi khoa học là động lực của sự phát triển.

Tại Đại hội III (1960) Đảng đã xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Đại hội IV (1976) đã nhấn mạnh cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt trong ba cuộc cách mạng tiến hành đồng thời để xây dựng CNXH, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.Đại hội VI khởi xướng công cuộc đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa, hội nhập, đề ra: “CNH nước ta trong bối cảnh quốc tế mới, không thể lặp lại con đường CNH các nước đi trước, mà phải biết tận dụng những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học –công nghệ hiện đại, để có thể đi tắt”... Đại hội xác định:Khoa học, giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đại hội nhấn mạnh: “Chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể và của cả cộng đồng dân tộc”...

Hội nghị Trung ương 7 khóa VII xác định CNH phải gắn với HĐH, coi việc sử dụng KHKT tiên tiến là cốt lõi của CNH. "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện kinh tế, xã hội… từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng … công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại,… dựa trên tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao".

Đại hội VIII khẳng định cần chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước… để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Coi khoa học và giáo dục là nền tảng và động lực của CNH, HĐH.

Đại hội IX nhận định, kinh tế tri thức đang trở thành xu thế nổi bật trong phát triển LLSX hiện đại. Nước ta từng bước phát triển KTTT. Mục tiêu CNH, HĐH là trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Đại hội X dành một chương nói về CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT, nêu ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển KTTT trong quá trình CNH, HĐH nước ta.

Đó là quá trình phát triển, từng bước nâng cao và cụ thể hóa tư duy coi khoa học là động lực của sự phát triển, tinh thần kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; quá trình đó tất yếu dẫn đến phát triển triển KTTT. Tư duy, đường lối chính sách đó là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp xu thế phát triển của thời đại, đã chi phối cách thức, con đường đi tới CNXH của Việt Nam.

Từ tư duy, chính sách đến thực tiễn:

25 năm đổi mới vừa qua nước ta đạt nhiều thành tựu rất đáng tự hào về tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, nâng cao vị thế trên thế giới… Nhưng hiệu quả, chất lượng thấp, phải trả giá đắt, nền kinh tế có xu thế phát triển không bền vững, nhiều vấn đề xã hội đang đặt ra, nguy cơ tụt xa hơn.

- ICOR lên đến 8, tiêu hao vật chất, năng lượng trên 1 đơn vị GDP ngày càng tăng cao, các chỉ số phát triển công nghệ, chỉ số về năng lực cạnh tranh đều thua xa các nước xung quanh, khu vực dịch vụ phát triển rất chậm (mới khoảng 40%, bình quân thế giới 65%). Xuất khẩu nhiều, hiệu quả kém, nhập siêu cao. FDI chỉ 13% có công nghệ mới. Công nghiệp công nghệ cao hầu như chưa có.

- Chưa có chuyển biến đáng kể về năng suất, chất lượng, hiệu quả, theo hướng phát triển dựa vào tri thức. Nền kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào vốn và bán tài nguyên (TFP chỉ chiếm dưới 20% của tăng trưởng GDP, trong khi vốn là 64%...). Chỉ số phát triển KTTT năm 2008 đạt 3,1 thuộc nhóm nước trung bình kém.

- Chưa phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tính ưu việt của chế độ. Chưa phát huy đội ngũ trí thức. Các năng lực sáng tạo, năng lực sản xuất chưa được giải phóng.

- Công cuộc đổi mới do Đại hội VI khởi xướng tạo đột phá tư duy trọng đại, động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế, thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng. Nhưng sau đó tình hình thế giới và trong nước biến động nhanh, nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều rào cản không kịp tháo gỡ, nhiều tiêu cực không được đẩy lùi…, cho nên nhiều thời cơ bị bỏ lỡ, nhiều khuyết tật của nền kinh tế trở nền trầm trọng.

- Nền dân chủ XHCN chưa được phát huy đầy đủ, bộ máy quản lý chưa “minh bạch, công khai”, chưa thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; sự suy thoái đạo đức của một số cán bộ, đảng viên, nạn tham nhũng hối lộ hoành hành, nạn chạy chức chạy quyền gia tăng, nói không đi đôi với làm, tâm tư người dân bức xúc, uy tín của Đảng suy giảm.

- So sánh với các nước: bắt đầu từ CNH từ khoảng năm 1970, đến năm 1995 Hàn Quốc, Đài Loan đã trở thành nước công nghiệp mới, GDP đầu người từ khoảng vài trăm USD tăng lên 12-13 ngàn USD. Nước ta nếu tính từ 1985 đến nay cũng 25 năm chỉ mới đạt 1000 USD.

- Nguyên nhân: tư duy lý luận chậm phát triển, chịu ảnh hưởng nặng của kinh tế tập trung bao cấp, công tác xây dựng Đảng yếu; hệ thống chính trị, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách chậm đổi mới.

Bài học mà Đại hội VI đã đúc kết cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị: lấy dân làm gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; luôn xuất phát từ thực tiễn, hành động theo qui luật khách quan; kết hợp sức mạnh của thời đại và sức mạnh của dân tộc; xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị một Đảng cầm quyền. Tình hình đòi hỏi phải theo tinh thần đó, đổi mới mạnh mẽ hơn để thực hiện chiến lược phát triển dựa vào tri thức, giành thắng lợi trong hội nhập nền KTTT toàn cầu hiện nay.

III- Hội nhập quốc tế và phát triển KTTT là tất yếu đối với nước ta

Nền KTTT là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho phát triển và tăng trưởng kinh tế, xã hội, bao gồm truy cập vào kho tri thức toàn cầu đồng thời làm chủ và sáng tạo tri thức mới cần thiết cho riêng mình (WB, UNDP 2004).

Ngày nay hội nhập quốc tế tức là hội nhập vào nền KTTT toàn cầu hóa, do CNTB thao túng., Nếu ta vẫn giữ tư duy cũ, cách làm cũ để hội nhập, thì dễ trở thành thuộc địa kiểu mới, bãi thải công nghệ. Nhưng đây cũng là cơ hội lớn để nắm bắt vận dụng tri thức mới, phát triển KTTT, rút ngắn khoảng cách với các nước.

Hội nhập là hợp tác và đấu tranh, phải có chiến lược, sách lược đúng, biết tận dụng cơ hội, phát huy lợi thế của nước đi sau, hạn chế tối đa sự thua thiệt. Hội nhập để tiếp nhận tri thức mới, phát triển KTTT, rút ngắn CNH, HĐH. Hội nhập để hợp tác cùng các nước, các khối nước đấu tranh chống lại sự bất bình đẳng của toàn cầu hóa, bá quyền của siêu cường TBCN. Hội nhập phải cân nhắc lựa chọn, có khu vực hội nhập, có khu vực “hướng nội”, phải giữ thế thủ, có các chốt an toàn để hạn chế những tổn thương mỗi khi có khủng hoảng toàn cầu gây ra.

Phát triển KTTT ở nước ta là một chuyển biến chiến lược trọng đại: chuyển nền kinh tế từ dựa vào tài nguyên sang dựa chủ yếu vào tri thức và năng lực sáng tạo của con người.Với những nguồn lực sẵn có, sử dụng tri thức mới, công nghệ mới để làm ra được nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn. Tài nguyên thiên nhiên là có hạn, năng lực sáng tạo con người là vô hạn.

Nước ta là nước đi sau, có cơ hội và cần thiết phải đi tắt, phát triển KTTT ngay trong quá trình CNH. Cùng một quá trình thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ CNH và “tri thức hóa”. Nói cách khác đó là CNH rút ngắn dựa trên tri thức. Xuất phát từ thực tế nước ta, yêu cầu hội nhập và yêu cầu phát triển rút ngắn buộc ta phải có chiến lược hai tốc độ (tuần tự và nhảy vọt) và phân biệt hai khu vực “hướng ngoại” và “hướng nội”, với sự tính toán lựa chọn khôn ngoan, sử dụng tối ưu nội lực và ngoại lực, lao động, cơ sở vật chất và công nghệ mới, đạt tới hiệu quả cao, sự phát triển nhanh và bền vững.

Kinh tế tri thức cho ta cơ hội nhắm bắt và vận dụng sáng tạo những tri thức mới, cách thức kinh doanh mới để đổi mới nền kinh tế nước ta

Tìm ra cái chưa biết là sáng tạo cái mới, là tạo ra giá trị mới. Tạo ra của cải và nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ là nhờ tối ưu hóa và hoàn thiện cái đã có, mà chủ yếu là do sáng tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới, cách làm mới. Sáng chế đẻ ra doanh nghiệp, doanh nghiệp mới thành lập dựa trên công nghệ mới, sản phẩm mới, cách làm mới. Làm ăn theo đường mòn đồng nghĩa với thua thiệt, tụt hậu.

Đổi mới sáng tạo là động lực trực tiếp của sự phát triển. Nâng cao năng lực KHCN và thiết lập hệ thống đổi mới sáng tạo (liên kết hữu cơ viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp, cùng các thiết chế hỗ trợ của Nhà nước nhằm đẩy nhanh việc sáng tạo tri thức, sử dụng tri thức và biến tri thức thành giá trị) là nhân tố quyết định đối với phát triển KTTT. Cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý phải bắt buộc mọi hoạt động, mọi lĩnh vực, mọi người đều sử dụng KHCN, tri thức mới. Đây chính là sự thực hiện tư tưởng của K.Marx, Hồ Chí Minh, của Nghị quyết 37 Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng… trở thành hiện thực ngày nay). Xóa bỏ sự tách rời khoa học với kinh tế.

Sản xuất công nghệ trở thành ngành sản xuất quan trọng nhất, tạo giá trị cao nhất. (Marx:: phát minh trở thành ngành đặc biệt). Cần các thiết chế; quỹ đầu tư mạo hiểm, khu công nghệ cao, vườn ươm công nghệ, doanh nghiệp KHCN (start-up).

Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn, phải chấp nhận “Sự phá hủy có tính sáng tạo”. Kinh doanh theo “tốc độ của tư duy”, chậm trễ đồng nghĩa với thất bại.

Vốn người, vốn tri thức xã hội là nguồn lực cơ bản của phát triển kinh tế. Cạnh tranh kinh tế là cạnh tranh về giáo dục. KTTT là nền kinh tế học hỏi (learning economy). Xã hội học tập là tiền đề cho nền KTTT. Người lao động phải học tập suốt đời, không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng. 

Hai công cụ lao động quan trọng nhất là bộ óc con người và mạng thông tin toàn cầu. Ai cũng có, cũng có thể sử dụng, nhưng cơ hội không như nhau; tùy thuộc vào năng lực từng người.

Tài sản vô hình có giá trị hơn và tăng nhanh hơn nhiều so với tài sản vô hình. Tính chung cho các nước phát triển: năm 1980 tài sản vô hình chiếm 20% GDP, năm 2006 là 50%, dự báo năm 2010 là 55% và năm 2020 là 70%. Đầu tư vào vô hình phải nhiều hơn đầu tư vào hữu hình.

Nhiều thay đổi lớn trong mọi mặt đời sống xã hội loài người: KHCN, kinh tế, quan hệ xã hội, thượng tầng kiến trúc, cách sản xuất kinh doanh, cách làm việc, lối sống, cho đến tư duy, nhận thức, các khái niệm... có nhiều thay đổi, đảo lộn.

IV- Nhiệm vụ phát triển KTTT trong quá trình CNH, HĐH

Tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, công nghệ mới, sử dụng tri thức để đổi mới, hiện đại hóa tất cả các ngành, cắt giảm các dự án đầu tư lớn, tiêu hao nhiều nguyên liệu năng lượng mà hiệu quả thấp, phát triển các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ dựa nhiều vào tri thức, chấm dứt bán tài nguyên thô, nhập công nghệ thay cho nhập sản phẩm chế biến - FDI phải đi kèm chuyển giao tri thức, tăng mạnh vốn đầu tư VỐN NGƯỜI (giáo dục đào tạo, tiềm lực khoa học, văn hóa, y tế…), nhân tố quyết định sự phát triển. Thực hiện sự chuyển hướng chiến lược từ sự phát triển dựa vào tài nguyên sang phát triển dựa vào tri thức, năng lực trí tuệ của con người, từ sự coi trọng tăng trưởng GDP sang coi trọng hiệu quả, chất lượng của tăng trưởng, gia tăng nhanh hàm lượng tri thức trong GDP, giảm mạnh tiêu hao nguyên liệu, năng lượng.

Sử dụng tri thức mới để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Giải pháp chủ yếu là tăng nhanh tốc độ đào tạo nghề, phát triển hạ tầng CNTT đưa thông tin và tri thức về nông thôn.

Tập trung nguồn lực thích đáng phát triển các ngành, các khu kinh tế công nghệ cao để trở thành mũi nhọn chiến lược.

Đổi mới công nghệ, sản phẩm, phương pháp tổ chức sản xuất kinh doanh trong tất cả các ngành. Đã đầu tư mới là sử dụng công nghệ mới nhất. Trong mỗi ngành cũng phải có những mũi nhọn đột phá đi thẳng vào công nghệ cao. Chú trọng sử dụng công nghệ cao để phát triển nhanh ngành cơ khí chế tạo, đặc biệt là cơ khí chính xác, tự động hóa, trở thành những ngành KTTT. 

Cần có lộ trình, bước đi thích hợp cho đổi mới công nghệ, phát triển KTTT trong từng ngành, từng địa phương, để đạt tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại (giá trị do tri thức tạo ra) chiếm khoảng 40% GDP, công nhân tri thức chiếm khoảng 30% lực lượng lao động, chỉ số KTTT đạt mức trung bình của thế giới.

Bốn trụ cột dựng lên nền KTTT:

Nguồn nhân lực chất lượng cao, năng động sáng tạo, không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng. Có nền giáo dục tiên tiến đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Hình thành chế độ học tập suốt đời, xã hội học tập.

Đội ngũ cán bộ khoa học năng động sáng tạo, đủ sức làm chủ các thành tựu KHCN mới, ứng dụng nhanh vào thực tiễn; có khả năng sáng tạo những công nghệ mới cần thiết cho đất nước. Thiết lập hệ thống đổi mới sáng tạo.

Phát triển mạnh hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Ứng dụng và phát triển ICT trong tất cả các lĩnh vực. Coi ICT là động lực cho đổi mới và phát triển, nhân lên sức mạnh tinh thần, vật chất, trí tuệ của dân tộc, là mũi nhọn xung kích vào KTTT. Xã hội thông tin là tiền đề cho nền KTTT. 

Thể chế, chính sách, tổ chức quản lý thực sự dân chủ, phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, tạo môi trường kinh doanh sôi động, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi khả năng sáng tạo, mở đường cho KTTT phát triển. Đây là yếu tố quyết định nhất, nếu thiếu nó thì ba yếu tố trên chỉ mới là tiềm năng của KTTT.

V- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để tiến cùng thời đại

1. Đổi mới tư duy, tiến kịp thời đại

Khắc phục bệnh giáo điều, duy ý chí làm hạn chế tự do tư tưởng trong nghiên cứu khoa học, cản trở sự phát triển lý luận.

Tư duy phát triển bằng năng lực trí tuệ con người, coi tri thức là nguồn gốc của mọi của cải; coi trọng tài sản trí tuệ hơn tài sản hữu hình phát triển là làm tăng các khả năng lựa chọn của con người về một cuộc sống có giá trị đối với mình... 

Tư duy tổng thể toàn cầu, tiến kịp thời đại, luôn so ta với các nước, lựa chọn chiến lược, sách lược đúng đắn, kịp thời để vượt lên đuổi kịp.

Đổi mới thể chế, chính sách, tổ chức quản lý, môi trường kinh doanh:

- Phát huy quyền tự do dân chủ XHCN: Trong nền kinh tế tri thức, yếu tố quan trọng nhất của sản xuất là tri thức. Có môi trường tự do dân chủ thực sự thì khoa học mới phát triển, có tri thức mới. Cần khuyến khích tìm tòi cái mới, tranh luận, phản biện, không áp đặt, không trấn áp những ý kiến khác với chính thống.

- Đổi mới hệ thống chính trị: cần minh định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng tổ chức trong hệ thống chính trị. Đảng là người lãnh đạo, không làm thay việc của Nhà nước. Quốc hội phải là cơ quan quyền lực cao nhất. Nhà nước không làm thay chức năng của thị trường và các chủ thể khác, phát huy quyền làm chủ và huy động sự tham gia của mọi công dân, gia đình và các tổ chức quần chúng. 

- Tiếp tục đổi mới Đảng cho ngang tầm với nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng mới. Đảng phải trí tuệ, tiên tiến, của dân, vì dân. Dân chủ trong Đảng để tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của một Đảng cầm quyền.

- Chuyển mạnh sang kinh tế thị trường.Để cho nền kinh tế có hiệu quả và năng lực cạnh tranh cao phải nhanh chóng có nền kinh tế thị trường thực sự, hoạt động theo quy luật của nó. Vai trò rất quan trọng của Nhà nước là can thiệp để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, điều tiết thu nhập, chăm lo phúc lợi chung của xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền, giữ vững định hướng XHCN. Nhà nước không làm thay chức năng của thị trường, không để cho các doanh nghiệp dựa dẫm, bòn rút… Nhiều công việc để cho dân làm, dân quyết hiệu quả hơn để cơ quan nhà nước làm.

- Cải cách hành chính gắn với tin học hóa, nhanh chóng có Chính phủ điện tử để cho bộ máy nhà nước có hiệu lực hơn, nhanh nhạy hơn, có trách nhiệm hơn, dân chủ, công khai, minh bạch, không còn đất cho phát triển tiêu cực.

- Đổi mới công tác cán bộ. Tuyển chọn, sử dụng, đề bạt, đãi ngộ, phải dựa trên thực lực, hiệu quả công việc, tiến hành dân chủ, công khai, minh bạch, được quần chúng đánh giá.

- Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là loại trừ nạn tham nhũng, mua bán chức quyền, đang cản trở lớn nhất đối với sự phát triển dựa vào tri thức, đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Trọng tâm của quản lý kinh tế chuyển sang quản lý tri thức, khơi dậy các năng lực sáng tạo, tạo ra tri thức mới và sử dụng có hiệu quả tri thức, biến tri thức thành giá trị. Chuyển trọng tâm từ quản lý nguồn lực vật chất, cái hữu hình sang quản lý, cái vô hình. Không gò vào một khuôn khổ định sẵn mà chủ yếu phải là khơi dậy các khả năng sáng tạo, giải phóng các năng lực sản xuất. Pháp luật cho phép mọi người được tự do kinh doanh, làm những gì mà pháp luật không cấm.

Chuyển từ quản lý quá trình, khối lượng sang quản lý kết quả và hiệu quả cuối cùng. Từ kinh tế hiện vật chuyển sang kinh tế giá trị. Bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững, đưa sự quan tâm hàng đầu vào năng suât, chất lượng, hiệu quả. Khắc phục cách làm dự án và nạn “chạy dự án”, mọi người chỉ tìm cách để có dự án mà không quan tâm đến hiệu quả.

- Thiết lập hệ thống đổi mới sáng tạo trong toàn nền kinh tế, tạo sự liên kết hữu cơ khoa học, đào tạo với sản xuất kinh doanh, nhằm đẩy nhanh quá trình đổi mới sáng tạo. Có cơ chế tài chính, tín dụng thỏa đáng thúc đẩy quá trình đổi mới. Phát triển thị trường công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm, các khu công nghệ cao, vườn ươm doanh nghiệp…

- Có chính sách thỏa đáng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với từng giai đoạn phát triển, theo nguyên tắc bảo đảm hài hòa lợi ích của người sáng tạo, người sử dụng và lợi ích chung của xã hội, lợi ích của đất nước đang là người mua công nghệ.

2. Nguồn nhân lực chất lượng cao nền tảng cơ bản nhất của KTTT

- Xây dựng và phát huy đội ngũ trí thức và công nhân tri thức, đó là lực lượng tiên phong và chủ lực để phát triển nền KTTT, họ là những người làm việc bằng bộ óc của mình, sử dụng tri thức mới để tạo ra giá trị mới, trong tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, quản lý, dịch vụ công... Có đội ngũ trí thức lớn mạnh về phẩm chất và năng lực - lực lượng tiên phong, đại diện cho phương thức sản xuất mới - thì mới có KTTT. Trí thứclà những người hướng dẫn xã hội, lại là những người tạo ra phần lớn của cải xã hội.

- Điều cần thiết nhất đối với trí thức là môi trường thực, sự tự do dân chủ, họ được tiếp cận các nguồn thông tin, được tự do tư tưởng, được trình bày, tranh luân, phản biện và bảo vệ ý kiến của mình, không bị ai áp đặt, trấn áp, qui chụp. Những ý tưởng mới, khác với chính thống cần được tôn trọng, để cho tranh luận, khảo nghiệm. Tìm ra cái chưa biết là sáng tạo cái mới, là động lực của phát triển.

- Các cấp lãnh đạo biết tin dùng, tạo điều kiện làm việc cho trí thức, chú ý lắng nghe những ý kiến khác mình, thẳng thắng tranh luận tìm ra chân lý.Muốn thực sự là Đảng tiền phong của dân tộc, Đảng phải kết tinh được trí tuệ của cả dân tộc, phải tập hợp được đội ngũ trí thức, có nhiều trí thức ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Cần có chính sách khuyến khích mạnh mẽ hơn để huy động trí thức người Việt ở nước ngoài chuyển giao tri thức mới về nước phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta.

- Trí thức hóa công nhân, đào tạo và phát triển đội ngũ công nhân tri thức, họ cùng với đội ngũ trí thức là lực lượng chủ lực đi tiên phong vào KTTT, là tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới, đó là giai cấp công nhân mới trong thời đại KTTT.

- Cải cách triệt để nền giáo dục để gấp rút đào tạo nguồn nhân lực cho KTTT. Giáo dục nhằm đào tạo những con người có phẩm chất, bản lĩnh, có trách nhiệm với xã hội, dám nghĩ dám làm, có tư duy độc lập, năng lực sáng tạo, năng lực tiếp thu, làm chủ tri thức mới, vận dụng linh hoạt sáng tạo vào thực tiễn. Từ bỏ cách dạy học thụ động, áp đặt, nặng về nhồi nhét kiến thức; chú trọng vào phát triển trí tuệ, bồi dưỡng năng lực, phương pháp tiếp cận, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, ứng xử. làm việc trong cộng đồng. Phải đổi mới tư duy giáo dục, giao quyền tự chủ cho trường đại học, còn áp đặt thì không có trường đại học tốt, khó có nhân tài. Đổi mới cơ bản chính sách tài chính cho giáo dục.

Để giáo dục phát triển tốt, cần có môi trường xã hội thuận lợi, việc sử dụng đãi ngộ theo đúng năng lực và cống hiến, không có tham nhũng, hối lộ, chạy quyền, chạy chức, chạy việc. Xã hội hóa giáo dục phải đi đôi với chính sách hỗ trợ và kiểm tra của Nhà nước, phải có hệ thống kiểm định chất lượng. Chỉ khi có một thị trường lao động lành mạnh, minh bạch thì mới có sự cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục, mới nâng cao được chất lượng giáo dục.

- Thiết lập hệ thống học tập suốt đời, nhanh chóng hình thành xã hôi học tập.

- Mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp cận nền giáo dục tiên tiến thế giới, liên kết với các đại học tiên tiến thế giới, mở các trường chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện cho các trường đại học tiên tiên nước ngoài mở trường đào tạo tại Việt Nam.

- Cử đông đảo sinh viên, giảng viên, các nhà khoa học đi học tập, thực tập ở các nước tiên tiến, tập trung vào những lĩnh vực ưu tiên phát triển của Việt Nam (như điện tử, viễn thông, tự động hóa, công nghệ sinh học, công nghệ nanô...), khi về nước có đủ lực lượng triển khai ngay từ nghiên cứu phát triển đến sản xuất kinh doanh.

3. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin như mũi nhọn đột phá vào KTTT

-Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị năm 2000 đến nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa, cần được thực hiện nhanh và đầy đủ, nếu chậm trễ thì khó hội nhập, khó phát triển KTTT.

- Xây dựng hạ tầng CNTT TT phủ khắp nước.

- Mọi người làm việc, học tập, sản xuất kinh doanh, quản lý, nghiên cứu sáng tạo ... nhờ CNTT. Chính phủ điện tử, văn phòng điện tử, thương mại điện tử, ngân hàng điện tử, học tập từ xa, y tế từ xa... để nâng cao hiệu lực, sự trong sạch, minh bạch của hệ thống quản lý, thực hiện dân biết, dân bàn dân làm dân kiểm tra, loại trừ tham nhũng, đổi mới, hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả, năng suất nền kinh tế, nâng cao dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, tạo môi trường phát triển khả năng sáng tạo, hiện đại hóa lực lượng an ninh quốc phòng, sẵn sàng đối phó với chiến tranh điện tử, sự chống phá các thế lực thù địch.

Nước ta phải trở thành một nước mạnh về CNTT, hình thành xã hội thông tin trước năm 2020.

Kiến nghị

Kế thừa Đại hội VI, Đảng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng điểm mạnh, điểm yếu, cái được và chưa được, thấy rõ thời cơ và thách thức của thời đại mới, nhất là cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, trên tinh thần tôn trọng qui luật khách quan, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và các học thuyết khoa học tiến bộ khác, đẩy mạnh một cuộc đổi mới toàn diện hơn nữa, chuyển nền kinh tế sang phát triển nhanh và bền vững dựa vào tri thức, tiến kịp thời đại, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. 

Bài đăng trong "Thông tin lý luận chính trị" Hội đồng Lý luận Trung ương số 33/4/2011.

*****
Chú thích:
* Nguyên Ủy viên Trung ương, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. 

ISSTH 



0 nhận xét:

Đăng nhận xét