Chủ Nhật, ngày 15 tháng 7 năm 2012

Nhân lực chất lượng cao: Quan niệm và nhu cầu hiện nay. Liên hệ với trường hợp tỉnh Lâm Đồng


TS, NCVCC, Hồ Bá Thâm[1]

Chúng ta đang chuyển từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại gắn với nền kinh tế tri thức xã hội thông tin. Đó là hình thái kinh tế - xã hội cả về kinh tế, xã hội nhân sinh và chính trị không chỉ phát triển về số lượng, qui mô mà trọng chất lượng, hiệu quả, đi vào chiều sâu. Ở đây không chỉ cần công nghệ chất lượng cao, thể chế chất lượng cao, mà còn rất cần nhân lực chất lượng cao, xét trong quan hệ nhân quả giữa chúng… 

Nước ta nói chung và mỗi tỉnh thành phố nói riêng, đang ở bước ngoặt của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế cả chiều rộng và chiều sâu, mà chiều sâu là chính. Đồng thời với cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay và khó khăn của nền kinh tế xã hội của đất nước buộc ta phải vượt qua chính mình đổi mới nhất thức, hành động quyết liệt những khâu đột phá mà ĐH XI của Đảng đã vạch ra, trong đó có vấn đề nhân lực chất lượng cao và giáo dục đào tạo. 

Phải chăng chúng ta chưa nhận thức đúng về nhu cầu và chưa hiểu rõ thực trạng hay lúng tùng về giải pháp cơ bản, đột phá, hay lực bất tòng tâm? 
Ở đây chúng ta bàn về nhu cầu xã hội và nguồn nhân lực chất lượng cao; chất lượng nguồn nhân lực cao, giữa lượng và chất; đào tạo và sử dụng. 

Nhưng, trước khi đi vào nghiên cứu thực tế cụ thể, cần có một quan niệm đúng ở cấp độ nhận thức lý luận khái niệm nguồn nhân lực cao. 

I- Quan niệm nhân lực chất lượng cao, đặc trưng và phân loại

Khái niệm Nhân lực chất lượng cao có nội hàm, tiêu chí gì? 

Nhân lực, tự bản nhân lực là xét về mặt lực lượng sản xuất, lực lượng lao động, lực lượng hoạt động xã hội, chứ không chỉ là lực lượng sản xuất theo nghĩa kinh tế. Hiểu khác đi sẽ trở nên phiến diện và thiếu đồng bộ/ không biện chứng, xa rời thực tế trong chiến lược phát triển cơ cấu nhân lực . 

Thông thường chúng ta phân loại nguồn nhân lực theo phân loại thứ bậc ta có: i) nhân lực lao động phổ thông; ) nhân lực lao động có tay nghề; nhân lực chất lượng thấp, trung bình và cao. 

Vậy nguồn nhân lực chất lượng cao (NLCLC) có nghĩa là gì?, nó có đặc trưng gì? 

Theo PGS Đàm Đức Vượng, thì: “Xây dựng nhân lực chất lượng cao có nghĩa là xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng đội ngũ doanh nhân quản lý doanh nghiệp, có khả năng tổ chức, khả năng cạnh tranh; xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ; xây dựng sự nghiệp giáo dục tiên tiến, hiện đại và một xã hội học tập toàn diện để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao”[2]
Tiến sĩ Phạm Đỗ Chí chia sẻ: “Trở về VN sau nhiều năm học tập và làm việc ở nước ngoài, tôi thực sự sửng sốt khi thấy xã hội có quá nhiều bằng cấp. Ấn tượng hơn là trên danh thiếp của nhiều vị còn in một loạt học hàm, học vị được cấp ở nhiều trường đại học ở Mỹ mà sau này qua tìm hiểu tôi biết đó là những trường không được ngành giáo dục nước này chấp chận, tức là văn bằng “dỏm”. Thực tế, qua làm việc với những người có bằng cấp kiểu này, tôi thấy kiến thức và kinh nghiệm của họ đều kém, không thể gọi đó NLCLC hoặc người tài được”.[3]
 
Nhưng nói như thế vẫn chưa rõ nội hàm nhân lực chất lượng cao là gì! 

Còn theo GS. Chu Hảo thì “Nhân lực chất lượng cao trước hết phải được thừa nhận trên thực tế, không phải ở dạng tiềm năng. Điều đó có nghĩa là nó không đồng nghĩa với học vị cao. NLCLC là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội”(HBT nhấn mạnh)[4]

Những phẩm chất nhân cách của con người mới là yếu tố cơ bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tùy thuộc vào trình độ phát triển nhân cách tạo thành những bộ phận hợp thành cấu trúc nguồn nhân lực. Do vậy, giáo dục nhân cách phải được thực hiện trong bất cứ quá trình nào của chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Những suy thoái nhân cách bao giờ cũng làm tổn thương đến sự phát triển nguồn nhân lực (một tập đoàn doanh nghiệp có thể phá sản nhiều khi chỉ do một nhóm cán bộ lãnh đạo sa vào tình trạng tham nhũng)[5]. “Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại”[6]

Nhiều người đã bàn và muốn làm rõ khái niệm “Nguồn nhân lực chất lượng cao”. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau, cáh tiếp cận và diễn đạt về vấn đề này, vì vậy cách làm, cách đào tạo cũng khác nhau. 

Theo quan niệm của TS. Đinh Sơn Hùng, Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM, để đưa ra những tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao, nên dựa trên góc độ của nhà tuyển dụng, sử dụng lao động. Chính họ mới đánh giá một cách chính xác nguồn nhân lực của họ thật sự có chất lượng cao hay không. Theo kết quả điều tra gần đây của Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM, khi yêu cầu nhà tuyển dụng nêu ra các tiêu chí để đánh giá chất lượng của người lao động, kết quả thu được cho thấy có 3 tiêu chí được nhiều sự đồng thuận nhất: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng xử lý thực tế, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm: 30%; có kỷ luật, đạo đức: 20%; trình độ văn hóa và kiến thức cơ bản: 10%.[7]

Dựa vào kết quả khảo sát trên, có thể xây dựng 3 tiêu chí để đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao là: có khả năng thích ứng trong thời gian nhanh nhất với môi trường lao động và với tiến bộ khoa học công nghệ mới; có tác phong kỷ luật và đạo đức trong công việc; hai tiêu chí trước là điều kiện cần để đánh giá chất lượng lao động, còn điều kiện đủ là khả năng tư duy đột phá trong công việc, hay còn gọi là tính sáng tạo (HBT nhấn mạnh). Đây là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển, đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay. Đứng yên nghĩa là đang thụt lùi, nếu không liên tục có những ý tưởng sáng tạo thì hoạt động của các tổ chức nói riêng và suy rộng ra là đất nước sẽ không thể phát triển, và ngày càng bị trì trệ. Tiêu chí này sở được xem như điều kiện đủ và là tiêu chí cao nhất[8]

Về tiêu chí, làm nên nội hàm khái niệm. 

Tiêu chí về lượng ta thấy nhân lực chất lượng cao,nói chung phải là tốt nghệp từ cao đẳng- đại học trở lên, nhưng phải từ lại khá- giỏi. Tiêu chí chất lượng thể hIện ở năng lực linh hoạt, sáng tạo, ý chí vượt khó, đạo đức nghề nghiệp thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, kỷ năng nghề nghiệp tạo nên sản phẩm có chất lượng khá, và tốt, phù hợp qua hoạt động thực tế. “Một nguồn nhân lực chất lượng cao, thể hiện ở trình độ lành nghề của nguồn nhân lực.”[9]
… 

Như vậy theo chúng tôi, nói ngắn gọn nhân lực chất lượng cao phài là nhân lực với 4 đặc trưng chính: có trí tuệ, nhân cách, tay nghề vượt trội và có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất so với mặt bằng chung phù hợp với nền kinh tế - xã hội hiện đại mang tính chất tri thức.

Hoặc nhân lực chất lượng cao củng cấu thành các phẩm tính chính như: i) đạo đức nghề nghiệp; ii) sức bền và dẻo dai về thể lực, trí lực, chí lực, tâm lực; iii) năng lực, phương pháp, kỷ năng nghề nghiệp thành thạo cao, iv) tạo nên sản phẩm có sức cạnh tranh cao… so với mặt bằng chung. Sự khác nhau ở đây chủ yếu không chỉ là số lượng mà là chất lượng, dù “số lượng rình bắt chất lượng” (Heghen), chuyển hóa thành chất lượng và ngược lại. 

Nếu cụ thể hóa các tiêu chí đó, thì ta thấy có 6 tiêu chí cần thiết, không thể thiếu, sau đây: 

- Đạo đức nghề nghiệp: tinh thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm, tinh thần dân chủ, hợp tác, và ý thức vì tập thể, cộng đồng cao. 

- Năng lực chuyên môn: độ thành thạo nghiệp vụ cao, 

- Kỷ năng xã hội: kỷ năng làm việc nhóm, khả năng thay đổi, thích ứng nhanh, hội nhập cao … 

- Ý chí vượt khó, bền bỉ, năng lực kìm chế bản thân… 

- Tinh thần và phương pháp đột phá, sáng kiến, sáng tạo trong công việc… 

- Năng lực tự học, tự rút bài học kinh nghiệm bản thân, biết học hỏi đồng nghiệp, làm mới mình…thê hiện tiềm lực làm việc lâu dài…(nhân lực chất lượng cao không thể thiếu kỷ năng tự học). 

- Cuối cùng là năng lực thực tế tạo nên kết quả cao và vượt trội, có năng lực cạnh tranh… có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội… 

Trong thực tế số khá giỏi, tức những người có năng lực này ước tính chỉ chiếm khoảng 30% số có bằng cấp tốt nghiệp trở lên. 

So sánh

Như vậy, khái niệm nhân lực chất lượng cao gần đồng nhất với khái niệm nhân tài. Nhưng có thể nói khái niệm nhân lực chất lượng cao rộng hơn khái niệm nhân tài. Nhân lực chất lượng cao xem xét ở gốc độ lực lượng lao động. Nhân tài xét ở góc độ con người. Nhân tài nhấn mạnh mặt năng lực trí lực trong hoạt động. Khái niệm nhân lực[10] chất lượng cao nhấn mạnh tính tổng hòa đạo đức nghề nghiệp (nhân cách), thể lực, trình độ, ý chí, niềm đam mê và tay nghề (độ lành nghề) như một sức sản xuất (vật chất và tinh thần). Nhân tài là hạt nhân, đỉnh cao của nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo nghĩa rộng, nhân lực chất lượng cao và nhân tài là đồng nhất, hay thực chất là một. 

Phân loại 

Phân loại nhân lực chất lượng cao theo khả năng và hiện thức. ta thấy: cũng như nhân tài, nhân lực chất lượng cao tồn tài dưới 2 dạng: tiềm năng (qua quá trình rèn luyện, đào tạo); và năng lực thể hiện trong thực tế thể hiện qua sản phẩm làm ra…Dạng một sẽ chuyển hóa sang dạng hai, tức khả năng thành hiện thực. Và hai mặt này, hai quá trình này cũng mang tính nhân -quả. 

Phân loại các nhân lực chất lượng cao theo chiều ngang, chúng tôi thấy rằng không chỉ là i) nhân lực khoa học và công nghệ; ii) công nhân lành nghề, tay nghề cao, hay đội ngũ doanh nhân quản lý doanh nghiệp, có khả năng tổ chức, khả năng cạnh tranh cao; mà còn là iii) nhân lực văn hóa xã hội, chính trị xã hội, an ninh quốc phòng. Họ không chỉ là i) chuyên viên kỷ thuật trình độ cao, hoặc công nhân bậc cao; ii)các chuyên gia; mà còn là iii) các nhà quản trị, lãnh đạo, quản lý. 

Tóm lại, nhận thức đúng những tiêu chí chung, cơ bản của nhân lực chất lượng cao như thế thì công tác đào tạo, bồi dưỡng , tuyển dụng, đánh giá, trọng dụng mới chính xác và có ý nghĩa.

II- Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhu cầu, đào tạo và sử dụng

Nguồn nhân lực chất lượng cao và nhu cầu xã hội như thế nào? 

Việc hình thành và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, một mặt là trên cơ sở dự báo của sự phát triển kinh tế xã hội; mặt khác, chính nó thúc đẩy các mặt kinh tế xã hội lên trình độ mới. 

Về mặt khoa học công nghệ, ta thấy xu hướng nền kinh tế hướng tới thực hiện công nghệ cao, sạch. Đó là hệ thống công nghệ hiện đại gắn với hình thành nền kinh tế tri thức. Do đó, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực làm chủ được các công nghệ cao, có chất xám cao, đưa hàm lượng chất xám vào sản phẩm có chất lượng cả về mặt tri thức cà mỹ quan công nghiệp. 

Như vậy xét về mặt cộng nghệ, cùng với sự phát triển các ngành kinh tế xanh thì cần sớm thực hiện công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ trí tuệ nhân tạo… Đối với Lâm Đồng thì công nghệ sinh học, công nghệ bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, thì tạo nguồn nhân lực cao, thu hút sử dụng nguồn nhân lực về lĩnh vực này và ở vùng quê này rất quan trọng. 

Xét về mặt kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì nguồn nhân lực chất lượng cao phải có năng lực nhận thức và thực hành kinh tế thị trường chuyển dần theo nền kinh tế thị trường hiện đại (kết hợp kinh tế thị trường tự do và thị trường xã hội). Điều đó còn có ý nghĩa là nguồn nhân lực này có khả năng hội nhập quốc tế, tức có khả năng thông hiểu thị trường quốc tế và làm việc/ đàm phán, hợp tác trong môi trường đa văn hóa mà không hòa tan bản sắc dân tộc. Nguồn nhân lực như thế không chỉ là những con người kinh tế mà còn là những con người văn hóa, con ngừi có đạo đức nghề nghiệp có tầm nhìn quốc tế và hành động điạ phương… 

Xét về mặt chính trị - công dân, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người không chỉ có trí tuệ, có văn hóa nghề nghiệp mà còn là những công dân, nhửng người có ý thứ và năng lực thực thi dân chủ, và pháp quyền. Làm việc không chỉ vì lợi ích ca nhân mà còn là vì lới ich cộng đồng, lợi ich quốc gia. 

Những lĩnh vực như thể dù ở cấp quốc gia, vùng hay cấp tỉnh như Lâm Đồng, có thể đòi hỏi những loại nguồn nhân lực chất lượng cao tương ứng, nhưng dù loại nào ít nhiều cũng phài có những phẩm chất như vậy. 

Nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ ở tấm bằng, chứng chỉ học vấn, nghề nghiệp mà chủ yếu là ở chất lượng văn hóa, chất lượng tay nghề, kỷ năng lao động, hoạt động có hiệu quả cao với sản phẩm làm ra tương ứng. Nguồn nhân lực chất lượng cao phải làm ra sản phẩm có chất lượng cao, chứ không phải ở bằng cấp đơn thuần. Thước đo thực tế như vậy khác thước đo hình thức (thước đo văn bằng). 

Cũng cần phân biệt trong ngôn ngữ Việt khái niệm nhân lực chất lượng cao ở hai trường hợp, ngữ cảnh. Một ngữ cảnh là xét về mặt đào tạo, mặt số lượng như có trình độ đại học, có tay nghề bậc cao, có kinh nghiệm lâu năm…Và một ngữ cảnh là ngay tring loại nhân lực này, ví dụ cùng đào tạo kỷ sư chất lượng cao nhưng trong những người cùng lớp này cũng có thứ hạng chất lượng cao thấp khác nhau, đẳng có khác nhau không chỉ xét ở mức học mà quan trọng hơn là mức hành. Nên khi ra đời họ có côn hiến khác nhau khá xa. 

Chúng ta đang thiếu nghiêm trọng nhân lực chất lượng cao, tuy số lượng được đào tạo thì cũng khá nhiều. 

Các chuyên gia tại Hội thảo“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhu cầu cấp bách” do Trường ĐH Kinh tế - Luật thuộc ĐH Quốc gia TP.HCM, và Công ty CP Tri thức doanh nghiệp quốc tế tổ chức tại TP.HCM vào ngày 22.9. 2011) cho biết: Nguồn NLCLC luôn được coi là nhân tố quyết định cho sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thế nhưng, theo số liệu thống kê năm 2010 của các cơ quan chức năng, trong số 20,1 triệu lao động (LĐ) đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 LĐ đang làm việc thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước cấp. Một thực trạng hiện nay là nhân lực đào tạo các bậc hằng năm vẫn tăng, nhưng đội ngũ NLCLC vẫn rất thiếu so với nhu cầu xã hội. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực luôn ở trong tình trạng thiếu hụt trầm trọng NLCLC như: kinh doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, cơ khí chế tạo… Nhưng ở tỉnh Lâm Đồng, nguồn nhân lực chất lượng cao đào tạo hàng năm của ngành du lịch, chỉ xét về hình thức thì số người có trình độ ĐH-CĐ là 550 người/ 1950 người…[11]

Đào tạo, sử dụng và trọng dụng như thế nào? 

NLCLC là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội”. “Chính vì vậy, đòi hỏi mới của xã hội hiện đại chính là yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (NLCLC) phù hợp với bước quá độ sang nền kinh tế tri thức”.[12]

- Xét theo tiến hóa của các nền kinh tế xã hội và hiện nay. 

Theo GS Phạm Tất Dong, trong xã hội nông nghiệp, việc đào tạo nhân lực theo mô hình kết cấu một tam giác cân có 3 tầng: 

Tầng thấp nhất: những lao động trình độ sơ cấp; tầng thứ giữa: Những lao động trình độ trung cấp; tầng trên cùng: Những lao động có trình độ đại học trở lên. Trong xã hội nông nghiệp, việc đào tạo tuân thủ mô hình “tam giác nhân lực” trên đây là hợp quy luật. Có một số năm việc đào tạo theo mô hình “tam giác lộn ngược”, tức là làm cho “thầy nhiều hơn thợ”, đã tạo ra sự rối loạn trong việc bố trí, sử dụng nguồn nhân lực đã được đào tạo. 

Nhưng, vào giai đoạn công nghiệp phát triển và chuyển dần sang kinh tế tri thức thì mô hình trên đây không còn phù hợp nữa. Trong kinh tế tri thức, người được đào tạo ở trình độ cao không còn vai trò làm “thầy” thiên hạ. Bậc đại học đào tạo chủ yếu những lao động có tri thức, có tay nghề cao, để trở thành những người tham gia trực tiếp vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh. Đó là những lao động tri thức (Knowledge Worker). Trong khi đó, người lao động có trình độ sơ cấp sẽ ít dần. Mô hình đào tạo có kết cấu như một “quả trứng nằm ngang”, tức là như một mô hình ô-van. 

Ở giai đoạn cuối của nền kinh tế công nghiệp mà việc đào tạo nhân lực vẫn theo tư duy của kinh tế nông nghiệp sẽ không còn phù hợp[13]

Do vậy chúng ta cần cải cách toàn diện và mạnh mẽ nền giáo dục đào tạo ở nước ta. 

- Xét theo gốc độ đào tạo. 

Theo Chu Hảo, “cái gốc của sự trì trệ trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đó chính là mô hình tăng trưởng của chúng ta lâu nay không dựa vào việc phát triển nguồn nhân lực, mà chủ yếu khai thác tài nguyên, tận dụng nhân công giá rẻ. Chính vì vậy, cần nhìn thẳng vào điều sâu xa này, nhìn xem chúng ta so với các nước như thế nào để có chiến lược phát triển kịp thời”…Tổng giám đốc Navigos Group, ông Jonah Levey đã từng có những lời nhận xét: “Nguồn nhân lực cao cấp ở VN tuy có chất lượng tốt nhưng số lượng thì không đủ. VN ngày càng nhận rõ hơn bao giờ hết thiếu hụt này khi các doanh nghiệp đua nhau “săn” nhân lực cấp cao.Việc đào tạo một đội ngũ nhân sự tài năng tại VN cho đến khi có đáp số sẽ tiếp tục là một bài toán cho những người quan tâm”. 

Về vấn đề này, nhà toán học – triết gia Alfred North Whitehead đã có lời chỉ dẫn sáng suốt: “Bi kịch của thế giới là ở chỗ những người giàu tưởng tượng lại chỉ có kinh nghiệm sơ sài và những người giàu kinh nghiệm lại có trí tưởng tượng kém cỏi. Kẻ ngốc thì hành động dựa trên trí tưởng tượng còn người khôn lại hành động dựa trên kiến thức mà không có trí tưởng tượng. Nhiệm vụ của trường học là phải kết nối trí tưởng tượng và kinh nghiệm lại với nhau. Như vậy, để “hạn chế” bi kịch này, việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trước hết là nhiệm vụ của quốc gia và phải được đặt lên vai các trường đại học, nhất là những đại học lớn.[14]

Các ý kiến tại hội thảo nói trên cho rằng, chính hệ thống giáo dục, đào tạo còn nhiều bất cập; việc thiếu thông tin về cung cầu lao động; sự yếu kém trong công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội là những nguyên nhân gây thiếu hụt nguồn NLCLC. PGS-TS Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện kinh tế VN) nói thẳng: “Chúng ta luôn tự hào người VN rất thông minh, cần cù, hiếu học. Nhiều năm qua, địa phương nào cũng lấy nguồn nhân lực làm khâu đột phá nhưng “đột” mãi cũng không được, ở đâu cũng kêu ca thiếu người tài, đất nước chưa giàu… Chung quy cũng vì hệ thống giáo dục của ta có vấn đề”[15], dù có cố gắng cải cách nhưng còn nhiều yếu kém, trì trệ, lạc hậu, lạc hướng cả về nội dung chương trình, phương pháp học tập và quản lý. 

Trong đào tạo cũng cần cơ cấu đào tạo ngành nghề, chúng ta thấy ở các trường đào tạo có các lớp kỷ sự chất lượng cao, cử nhân chất lượng cao, nhưng ít thấy lớp đào nhà quản lý chất lượng cao. 

- Về mặt tuyển dụng và trọng dụng. 

Có những cách làm, như doanh nghiệp tư nhân doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng chú trọng năng lực, phẩm chất, kỷ năng thực tế, còn doanh nghiệp nhà nước, hoặc cơ quan hành chính thì chỉ trọng nhiều đến hình thức bằng cấp. Nếu không thay đổi cách thức tuyển dụng thì khó mà có động phấn đấu cho những người lao động có năng lực thực tế khác nhau. 

Không có chính sách động lực đúng, mạnh thì khó tạo ra và thu hút nhân lực chất lượng cao. Chúng tôi cho rằng đây phải là ưu tiên đâu tư, phát triển vấn đề số một. 

Không giải được bài toán nhân lực chất lượng cao (ưu tiên thu hút, đào tạo, trọng dụng) thì chúng ta sẽ tụt hậu lâu dài. Ở đây tính chủ động và chính sách động lực đúng, trúng của các cập là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. 

Nhìn vào thực trạng hiện nay về vấn đề này quá thật rất đáng lo ngại. 

Theo nhận định của ông Trần Anh Tuấn - Phó Giám đốc Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh, do tình hình kinh tế năm 2012 tiếp tục còn nhiều khó khăn, nên tháng 3/2012 và những tháng kế tiếp sẽ không tránh khỏi sự dịch chuyển lao động gắn với tình trạng thất nghiệp. Hiện tượng thất nghiệp và số người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp vẫn theo xu hướng không ổn định; ngoài lao động phổ thông tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn xuất hiện thêm lao động có tay nghề và nguồn nhân lực chất lượng cao… Chỉ số nguồn cung tháng 2/2012 tăng 54,95% so tháng 2/2011 ở hầu hết các ngành nghề; trong đó có những ngành nghề cạnh tranh cao như kế toán-kiểm toán, marketing, công nghệ thông tin, cơ khí, bán hàng, bất động sản,… Tuy vậy, tình trạng nhân lực được đào tạo những chuyên ngành này cũng khó tìm được việc, do chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ năng và ngoại ngữ. Điều này có thể giải thích vì sao chỉ có 50% sinh viên ra trường có việc làm, kể cả làm trái nghề.[16]

Các địa phương cũng đã có dự báo chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai theo từng kế hoạch nhưng nhìn chung còn nhiều bất cập, nhất là nhân lực bậc đại học, cao đẳng (nói chung mới chiếm khoảng 20-30% so với số nhân lực có được dào tạo). Riêng ở Lâm Đồng trong một phiên giao dịch, với 1399 chỉ tiêu tuyển dụng, trong đó xuất khẩu lao động có 400 chỉ tiêu. thì số người có trình độ ĐH-CĐ-TC chiếm 32,5%, trong đó ĐH-CĐ chiếm 10%[17]

Tóm lại, vấn đề chủ yếu, dù là cấp tỉnh hay cấp ngành, trung ương, là phải dự báo và làm kế hạch định hướng không chỉ về kinh tế xã hội mà cả về đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực cất lượng cao với cơ cấu ngành nghề thích hợp. Khi bàn về tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng thì thì cũng phải tái cơ cấu nguồn nhân lực và đổi mới nhận thức, tư duy về nguồn nhân lực, nhất là chú trọng nhân lực chất lượng cao; cải cách giáo dục. đào tạo nguồn nhân lực thích hợp, tương xứng. 

Đây là một trong những đột phá vừa mang tầm chiến lược vừa mang tầm chiến thuật. Phải tìm khâu đột phá tầm nhìn cách nhìn, đột phá chính sách trong đột phá lớn này. 

*****
Chú thích:

[1] Nguyên Vụ trưởng - Giám đốc chi nhánh, Nxb Chính trị quốc gia tại ĐBSCL.


[3] Phát biểu tại Hội thảo“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhu cầu cấp bách” do Trường ĐH Kinh tế - Luật thuộc ĐH Quốc gia TP.HCM, và Công ty CP Tri thức doanh nghiệp quốc tế tổ chức tại TP.HCM vào ngày 22.9. 2011 

[4] Chu Hảo, Nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa học vị cao, http://www.doanhtri.vn/article/chuyen-muc-chuyen-gia/nhan-luc-chat-luong-cao-khong-dong-nghia-hoc-vi-cao.aspx, 03/02/2012 11:43 GMT+7 

[5] GS.TS Phạm Tất Dong, Nguồn tin: dvhnn.org (Xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao) Đăng lúc: Thứ ba - 29/03/2011 15:30, http://dvhnn.org.vn/vi/news/Dien-dan-day-va-hoc/Xay-dung-con-nguoi-va-phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-282). 

[6] Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII 

[7]Nguồn: http://www.khoahocphothong.com.vn/news/detail/10733/khung-hoang-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao. 

[8] Nguồn: http://www.khoahocphothong.com.vn/news/detail/10733/khung-hoang-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao. 

[9] GS.TS Phạm Tất Dong, Nguồn tin: dvhnn.org. (Xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao) Đăng lúc: Thứ ba - 29/03/2011 15:30, http://dvhnn.org.vn/vi/news/Dien-dan-day-va-hoc/Xay-dung-con-nguoi-va-phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-282) 

[10] Khái niệm nhân lực/ nguồn nhân lực là lực lượng lao động, sức sản xuất. Còn các khái niệm khác như “vốn con người” (tư bản người), “vốn trí tuệ” là nói tài ngyên đầu váo của quá trình sản xuất. 

[11] Ở tỉnh lâm Đồng, theo thống kê sơ bộ 6 tháng đầu năm 2011, có khoảng 8.000 lao động đang làm việc tại các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn toàn tỉnh; trong đó có 5.500 lao động đang làm việc trong lĩnh vực lưu trú; 800 lao động trong lĩnh vực lữ hành – vận chuyển và 1.700 lao động trong lĩnh vực khu, điểm du lịch. Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 6 trường đào tạo ngành du lịch từ bậc công nhân lành nghề cho đến đại học. Hàng năm các trường đào tạo về du lịch trên địa bàn tỉnh đã cung cấp hơn 2.000 lao động qua đào tạo cho ngành du lịch địa phương và các vùng lân cận ở các trình độ sau: 300 cử nhân đại học, 250 cử nhân cao đẳng, 450 trung cấp và khoảng hơn 1.000 sơ cấp (DươngHiên,http://www.dalat.gov.vn/web/T%C6%B0li%E1%BB%87u/tabid/99/MaterialItemID/1021/MaterialCategoryID/0/currentpage/1/Default.aspx). 

[12] Chu Hảo, Nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa học vị cao, http://www.doanhtri.vn/article/chuyen-muc-chuyen-gia/nhan-luc-chat-luong-cao-khong-dong-nghia-hoc-vi-cao.aspx, 03/02/2012 11:43 GMT+7. 

[13][13] GS.TS Phạm Tất Dong, Nguồn tin: dvhnn.org. (Xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao) Đăng lúc: Thứ ba - 29/03/2011 15:30, http://dvhnn.org.vn/vi/news/Dien-dan-day-va-hoc/Xay-dung-con-nguoi-va-phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-282). 

[14] Chu Hảo, Nhân lực chất lượng cao không đồng nghĩa học vị cao, http://www.doanhtri.vn/article/chuyen-muc-chuyen-gia/nhan-luc-chat-luong-cao-khong-dong-nghia-hoc-vi-cao.aspx, 03/02/2012 11:43 GMT+7. 

[15] Hội thảo“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhu cầu cấp bách” do Trường ĐH Kinh tế - Luật thuộc ĐH Quốc gia TP.HCM, và Công ty CP Tri thức doanh nghiệp quốc tế tổ chức tại TP.HCM vào ngày 22.9. 2011 

[16] Trần Xuân Tình (VietnamPlus, TTXVN): Khủng hoảng nguồn nhân lực chất lượng cao. 

[17] Mục tiêu Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 10/5/2011 của Tỉnh ủy Lâm Đồng về phát triển du lịch, dịch vụ giai đoạn 2011 - 2015 đã xác định đến năm 2015 tỉnh Lâm Đồng sẽ đón từ 4,5 - 5,0 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm 10%; thời gian lưu trú bình quân là 2,7 ngày; thu nhập xã hội từ du lịch đạt khoảng 10.000 tỷ đồng; dịch vụ - du lịch chiếm 35,2 - 35,8% tổng GDP toàn tỉnh. Nhiệm vụ trọng tâm là tập trung đầu tư, xây dựng mới hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch để đến năm 2015 toàn tỉnh có trên 25.000 phòng nghỉ, trong đó số phòng khách sạn từ 1- 5 sao chiếm 40%; thu hút trên 15.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp du lịch; 90% lao động trực tiếp phải qua đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn và ngoại ngữ (Dương Hiên, http://www.dalat.gov.vn/web/T%C6%B0li%E1%BB%87u/tabid/99/MaterialItemID/1021/MaterialCategoryID/0/currentpage/1/Default.aspx). Còn tại phiên giao dịch việc làm lần này có 39 doanh nghiệp (trong đó có 9 doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp). Với 1399 chỉ tiêu tuyển dụng, trong đó xuất khẩu lao động có 400 chỉ tiêu. Trình độ lao động chuyên môn ĐH-CĐ-TC chiếm 32,5%, trong đó ĐH-CĐ chiếm 10%, chuyên môn kỹ thuật và lao động phổ thông chiếm tỷ lệ lớn đến 62,5% (http://chuyentrang.tuoitre.vn/Vieclam/Index.aspx?ArticleID=321323&ChannelID=269).